1. Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới
Nghị quyết đề ra mục tiêu: Kiên quyết, kiên trì phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” liên tục trong những năm tới; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện tại.
Nghị quyết nêu rõ 5 quan điểm thực hiện gồm: (1) Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự giám sát của Nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; kiên quyết, kiên trì, thường xuyên, liên tục, từ cơ sở, chi bộ đảng. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp để “không thể, không dám, không muốn, không cần” tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (2) Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, của Nhân dân lên trên hết và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội gắn với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Vừa kiên quyết, kiên trì đấu tranh, vừa kiến tạo phát triển, khuyến khích, bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người dân;
(3) Đẩy mạnh phòng ngừa, phòng ngừa từ gốc là căn bản, kiểm soát quyền lực là cốt lỏi, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trọng tâm; kết hợp chặt chẽ phòng ngừa với phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh, có trọng tâm, trọng điểm. Chủ động nhận diện, dự báo, cảnh báo, xử lý vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kiểm soát hiệu quả các điều kiện phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là các lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
(4) Xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhân văn, thuyết phục, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ bối cảnh lịch sử cụ thể và lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội, lợi ích quốc gia – dân tộc để xử lý phù hợp. Ưu tiên thu hồi tối đa tài sản, khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả; (5) Kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh; chú trọng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chủ động hội nhập và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam.
Nghị quyết đề ra 7 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể: (1) Nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu, thực hành văn hóa liêm chính của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và cán bộ, đảng viên trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (2) Hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, bảo đảm nghiêm minh, rõ trách nhiệm; (3) Kiểm soát quyền lực chặt chẽ, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (4) Phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, công bằng, khách quan, nghiêm minh, nhân văn, thuyết phục, hiệu quả, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; (5) Tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phát về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn xã hội; (6) Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền; huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (7) Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; mở rộng hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.
Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21/8/2006 của Hội nghị Trung ương 3 khóa X; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI; Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị.
2. Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 07/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ và giải pháp sau:
Một là, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát ngay từ cấp cơ sở. Đổi mới, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, quán triệt, hướng dẫn và phổ biến các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật. Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu phải coi kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ thường xuyên, gương mẫu, quyết liệt, thể hiện trách nhiệm cao trong tổ chức thực hiện. Mỗi đảng viên phải coi tự kiểm tra là trách nhiệm chính trị trước Đảng.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng gắn với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Công khai kết quả kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng, góp phần đấu tranh, ngăn chặn, giáo dục, răn đe, đẩy lùi các hành vi vi phạm.
Hai là, nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; kết hợp chặt chẽ việc hoàn thiện các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng với việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống quy định pháp luật của Nhà nước, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, liên thông trong công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý vi phạm. Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong định hướng hoàn thiện thể chế, kịp thời khắc phục tình trạng chồng chéo, khoảng trống, bất cập giữa kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Ba là, đổi mới tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên, nhất là cấp uỷ viên, cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý trong việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của cấp uỷ cấp trên và cấp mình; trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trách nhiệm nêu gương.
Chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của tổ chức đảng, đảng viên; chủ động và phát huy vai trò của chi bộ; trách nhiệm của đảng viên trong giám sát tổ chức đảng trên tinh thần “toàn Đảng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát”. Xây dựng cơ chế giám sát thường xuyên, coi đây là khâu đột phá để uỷ ban kiểm tra các cấp có đủ thẩm quyền và điều kiện tiếp cận đầy đủ, toàn diện thông tin, hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên. Tăng cường giám sát chuyên đề, giám sát ngay từ đầu, góp phần bảo đảm thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, quyết sách của Đảng; kịp thời phát hiện, uốn nắn, chấn chỉnh, khắc phục, ngăn ngừa vi phạm, không để vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng hơn, phức tạp hơn.
Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao, trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Tập trung kiểm tra các vấn đề cấp bách theo yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn đặt ra; các lĩnh vực trọng yếu, nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; các nhiệm vụ, thẩm quyền mới như kiểm soát tài sản, thu nhập và thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... Thông qua công tác kiểm tra, giám sát đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật. Đổi mới phương pháp, cách thức tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, chuyển trọng tâm sang công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm để phát hiện các nguy cơ có thể dẫn đến sai phạm.
Mở rộng, tăng cường giám sát, chuyển từ thụ động sang chủ động, nắm chắc tình hình thông qua giám sát thường xuyên, giám sát trên dữ liệu; kịp thời phát hiện, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm ngay từ khi mới manh nha, cùng với việc phát hiện các nhân tố mới tích cực, mang tính đột phá, hiệu quả để nhân rộng, hình thành và lan toả văn hoá chính trị trách nhiệm trong Đảng. Xây dựng cơ chế bảo vệ, khuyến khích cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của đất nước. Theo dõi, đôn đốc thực hiện nghiêm các kết luận sau kiểm tra, giám sát. Kiên quyết xử lý vi phạm, kỷ luật các trường hợp gây trì trệ, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Bốn là, chuyển đổi số toàn diện trong ngành Kiểm tra Đảng; đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, trang thiết bị, phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả; từng bước ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý, khai thác dữ liệu, liên thông thông tin giữa cơ quan uỷ ban kiểm tra và các cơ quan có liên quan; kiểm tra, giám sát trên dữ liệu để bảo đảm khách quan, rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng, hiệu quả; từng bước kiểm soát đúng, đầy đủ tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ diện cấp uỷ quản lý. Hoàn thiện các hệ thống phần mềm quản lý hồ sơ công tác kiểm tra, giám sát; phân quyền khai thác, tra cứu thông tin, thống nhất thực hiện giám sát thường xuyên và kiểm tra trên dữ liệu. Tập trung đầu tư, hiện đại hoá trang thiết bị, trụ sở, phương tiện làm việc cho ngành Kiểm tra Đảng.
Năm là, kiện toàn tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra bản lĩnh, liêm chính.
Kiện toàn tổ chức bộ máy của cơ quan uỷ ban kiểm tra; xây dựng mô hình tổ chức bộ máy cơ quan uỷ ban kiểm tra từ Trung ương đến xã, phường, đặc khu và tương đương bảo đảm đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra Đảng, nhất là cấp cơ sở; xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, khung năng lực của cán bộ làm công tác kiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo cán bộ kiểm tra có chuyên môn sâu trong một số lĩnh vực trọng yếu, có nhiều nguy cơ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực như: Công tác cán bộ, quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, tài chính, ngân hàng, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công... Nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp. Có chính sách thoả đáng, chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút cán bộ có phẩm chất, năng lực, tâm huyết, bản lĩnh, trách nhiệm về làm công tác kiểm tra của Đảng.
Sáu là, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan có liên quan.
Tăng cường, nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp và liên thông thông tin giữa cơ quan kiểm tra với các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và cơ quan liên quan. Ban hành và chỉ đạo thực hiện các quy định, quy chế phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra với các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ; giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy với các cơ quan liên quan trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tăng cường công tác phối hợp trong kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện các kết luận kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.
Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.
3. Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng
Quy định số 19-QĐ/TW nêu rõ mục đích nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực công tác, khả năng xử lý hiệu quả các biến động, tình huống thực tiễn phức tạp; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; kiên định nền tảng tư tưởng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng trong mọi hoạt động của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên.
Đồng thời, tăng cường xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, để Đảng ta thực sự đạo đức và văn minh, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện và sức chiến đấu của Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền và hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng; giữ gìn uy tín, tính tiên phong, gương mẫu, sự trong sạch, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực, sự đồng thuận, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Xây dựng môi trường chính trị, tư tưởng trong sáng, lành mạnh trong Đảng, hệ thống chính trị và xã hội; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, xây dựng văn hoá trong Đảng; củng cố sức mạnh nội sinh và uy tín của Đảng; phát huy dân chủ gắn với trách nhiệm cá nhân trong Đảng; đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Về yêu cầu, công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng; phải giữ vững nguyên tắc và không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò đi trước, mở đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn; tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và niềm tin của Nhân dân nhằm hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước, nâng cao đời sống Nhân dân. Công tác chính trị phải tạo động lực cho sự đổi mới tư duy chiến lược, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; mọi quyết sách và hành động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc và Nhân dân.
Cùng với đó, tiến hành thường xuyên, liên tục, khẩn trương, nghiêm túc, thực chất, đúng tiến độ, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong công tác chính trị, tư tưởng.
Quy định cũng nêu rõ 04 nguyên tắc trong công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, cụ thể:
Một là, công tác chính trị, tư tưởng phải lấy mục tiêu kiên trì, bảo vệ và phát huy “4 kiên định” làm định hướng hành động; mọi hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải nhất quán tuyệt đối về chính trị, tư tưởng. Quán triệt quan điểm chính trị, tư tưởng và văn hoá tạo ra nội lực tinh thần để Đảng lãnh đạo dân tộc đi xa và đi vững trong kỷ nguyên mới.
Hai là, chấp hành nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư; vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và trách nhiệm nêu gương của cấp uỷ các cấp, nhất là đồng chí bí thư cấp uỷ. Thực hành và phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phát ngôn và hành động trong Đảng.
Ba là, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đánh giá, định hướng dư luận xã hội và dự báo sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước để kịp thời định hướng chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong xã hội, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, không để bị động, bất ngờ.
Bốn là, công tác chính trị, tư tưởng phải gắn chặt, liên thông với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát, dân vận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chính trị; bảo đảm rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ chế tài, có tiêu chí cụ thể để lượng hoá, kiểm tra, giám sát; lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cao nhất. Cấp uỷ, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu chịu trách nhiệm cao nhất trong đánh giá về chính trị, tư tưởng của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý theo phân cấp.
Nội dung công tác chính trị, gồm: (1) Giữ vững bản chất cách mạng, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và sự phát triển của thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước; bảo đảm thống nhất về ý chí, hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng; (2) Giữ vững định hướng chính trị, kiên định lập trường tư tưởng trong mọi hoạt động; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Trung ương, cấp uỷ các cấp; thực hiện nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng chí Tổng Bí thư; (3) Gắn công tác chính trị với công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát và dân vận, đẩy mạnh công tác định hướng dư luận xã hội; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Nội dung công tác tư tưởng, gồm: (1) Thống nhất nhận thức và hành động về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về tầm nhìn và mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; (2) Xây dựng văn hoá Đảng: Thiết lập chuẩn mực đạo đức cách mạng, sự tiên phong, gương mẫu, liêm chính, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy giá trị văn hoá Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để củng cố, xây dựng, hoàn thiện, thực hiện văn hoá lãnh đạo, văn hoá công vụ; bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu đồng bào; khơi dậy tinh thần tự chủ chiến lược, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân;
(3) Cùng với đó, đổi mới phương thức công tác tư tưởng theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu số; nâng cao năng lực truyền thông chính trị hiện đại, chủ động nắm, phân tích, dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng xã hội; kịp thời định hướng dư luận xã hội, nhất là trong các vấn đề phức tạp, nhạy cảm; (4) Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng; giữ vững sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký; được phổ biến đến chi bộ và đảng viên.
4. Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành điều lệ Đảng
Quy định gồm 46 điều, trong đó quy định rõ các nội dung về tuổi đời và trình độ học vấn của người vào Đảng; về quyền của đảng viên; giới thiệu và kết nạp người vào Đảng; về thời hạn, thẩm quyền, trong công tác kết nạp đảng viên, xét công nhận đảng viên chính thức, tính tuổi Đảng của đảng viên; về đảng tịch của đảng viên; phát thẻ và quản lý thẻ đảng viên, quản lý hồ sơ đảng viên và thủ tục chuyển sinh hoạt đảng; đảng viên xin miễn công tác và sinh hoạt Đảng; xóa tên đảng viên và giải quyết khiếu nại về xóa tên đảng viên.
Quy định cũng đề cập đến một số nội dung về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; về hệ thống tổ chức của Đảng; nhiệm vụ của cấp ủy triệu tập đại hội; số lượng, phân bổ đại biểu; bầu và chỉ định đại biểu dự đại hội đảng bộ các cấp; các tổ chức điều hành và giúp việc đại hội; việc bầu cử trong Đảng; số lượng cấp ủy viên, số lượng ủy viên ban thường vụ và số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp; cấp ủy khóa mới được điều hành công việc ngay sau khi được bầu; về báo cáo kết quả đại hội; chuẩn y kết quả bầu cử; bổ sung, điều động, chỉ định cấp ủy viên và thôi tham gia cấp ủy.
Một số nội dung đáng chú ý là việc thí điểm Bộ Chính trị chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy: Các cơ quan Đảng Trung ương; Chính phủ; Quốc hội; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.
Quy định về việc lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp ủy; về đại hội bất thường ở các cấp; việc lập tổ chức cơ sở đảng, lập chi bộ trực thuộc trong một số trường hợp cụ thể; sinh hoạt định kỳ của đảng bộ cơ sở, chi bộ; đảng ủy cơ sở được ủy quyền quyết định kết nạp và khai trừ đảng viên; nhiệm kỳ chi bộ; việc bầu chi ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ (kể cả chi bộ cơ sở).
Một số quy định cụ thể về đảng ủy quân khu, đảng ủy quân sự địa phương; quan hệ giữa Đảng ủy Công an Trung ương với tỉnh ủy, thành ủy; cơ quan đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong Công an nhân dân; khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên; một số quy định cụ thể về Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội...
Theo Quy định, cấp ủy cơ sở quản lý hồ sơ đảng viên, phiếu đảng viên và danh sách đảng viên, cấp ủy cơ sở nào không có điều kiện quản lý và bảo quản hồ sơ đảng viên thì cấp ủy cấp trên trực tiếp quản lý, bảo quản.
Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, đảng ủy được giao quyền, thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở quản lý phiếu đảng viên và danh sách đảng viên, cơ sở dữ liệu đảng viên của đảng bộ, chi bộ trực thuộc; quản lý hồ sơ đảng viên và danh sách đảng viên đối với đảng viên đi lao động ở nước ngoài. Đảng ủy xã, phường, đặc khu quản lý hồ sơ đảng viên sinh hoạt tại chi bộ thôn, tổ dân phố. Đảng ủy Bộ Ngoại giao quản lý hồ sơ đảng viên, thẻ đảng viên và danh sách đảng viên trong Đảng bộ theo quy định của Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
Đáng chú ý, Quy định yêu cầu cấp ủy quản lý hồ sơ đảng viên thực hiện số hóa và quản lý hồ sơ điện tử của đảng viên; việc cập nhật, quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu đảng viên theo quy định của Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. Hằng năm, các cấp ủy chỉ đạo, kiểm tra việc bổ sung lý lịch đảng viên và quản lý hồ sơ đảng viên. Đối với đảng viên ra nước ngoài công tác, lao động, học tập từ 12 tháng trở lên, cấp ủy quản lý hồ sơ đảng viên hướng dẫn bổ sung lý lịch khi đảng viên về nước. Các tài liệu trong hồ sơ đảng viên không được tẩy xóa, tự ý sửa chữa; việc xác định mức độ mật của từng loại tài liệu trong hồ sơ đảng viên thực hiện theo quy định của Ban Bí thư, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Tổ chức đảng phải quản lý chặt chẽ hồ sơ đảng viên theo quy định của Ban Bí thư và các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Ban Tổ chức Trung ương giúp Trung ương hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý hồ sơ đảng viên, cơ sở dữ liệu đảng viên trong toàn Đảng...
Quy định này được ban hành trong hệ thống Đảng tới các chi bộ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các tổ chức đảng và đảng viên có trách nhiệm thi hành. Các quy định trước đây trái với nội dung Quy định này đều bãi bỏ.
5. Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Quy định gồm 7 chương, 35 điều quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đối với các tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng (gọi chung là chủ trương, quy định của Đảng), pháp luật của Nhà nước.
Quy định này áp dụng đối với tổ chức đảng và đảng viên, bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chia tách, sáp nhập về mặt tổ chức; đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu.
Đối với tổ chức đảng, đảng viên ở nước ngoài, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng theo Quy định này và các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, Quy định nêu rõ: (1) Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát và chấp hành việc kiểm tra, giám sát của cấp có thẩm quyền. Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra, giám sát; (2) Tổ chức đảng cấp trên kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Tổ chức đảng, đảng viên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền;
(3) Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải cương quyết xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời để răn đe và giáo dục; (4) Tuân thủ đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh;
(5) Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ. Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn; (6) Nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền kỷ luật đảng được quy định tại Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương. Mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tuân thủ nhằm bảo đảm việc thi hành kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên được thống nhất, chặt chẽ, công minh, chính xác, kịp thời.
Quy định này có hiệu lực thi hành từ ngày cấp có thẩm quyền ký, thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
6. Nghị định số 136/2026/NĐ-CP ngày 07/4/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 261/2025/NĐ-CP và Nghị định số 54/2026/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định số 100/2024/NĐ-CP sửa đổi).
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 07/4/2026.
Nghị định số 136/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung về điều kiện thu nhập được mua nhà ở xã hội theo hướng tăng mức trần thu nhập từ 5-10 triệu đồng tùy đối tượng so với quy định trước đây. Cụ thể, trường hợp người đứng đơn là người độc thân, thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận (theo bảng lương, tiền công được xác nhận) không quá 25 triệu đồng (tăng 5 triệu đồng so với quy định cũ). Với người độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên, mức thu nhập tối đa được nâng lên 35 triệu đồng/tháng (tăng 5 triệu đồng so với quy định cũ)…
Nghị định quy định cụ thể các giấy tờ chứng minh điều kiện về thu nhập của người lao động để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được sử dụng và có giá trị trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được xác nhận...
Nghị định nêu trên cũng quy định cụ thể nội dung những điều khoản thay đổi đối với các đối tượng trong các ngành, lĩnh vực... khi mua nhà ở xã hội.
7. Chương trình hành động số 20-CTr/TU, ngày 27/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnhAn Giang về tiếp tục nâng cao công tác dân vận trong tình hình mới
Chương trình nhằm cụ thể hóa, triển khai thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ công tác dân vận theo Nghị quyết Đại hội lần thứ I Đảng bộ tỉnh; tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết về công tác dân vận của Đảng, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành sau chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phuơng 02 cấp. Tăng cường quan hệ mật thiết giữa cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền với Nhân dân; nâng cao lòng tin của Nhân dân đối với cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triên kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, xây dựng đảng bộ và hệ thống chính trị các cấp trong sạch, vững mạnh.
Đồng thời, tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác dân vận (bao gồm công tác dân tộc, tôn giáo) đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; nâng cao chất lượng tổ chức và hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng các cấp trong tỉnh. Phát huy tốt quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng”; tăng cường đối thoại, tiếp xúc trực tiếp với Nhân dân; giải quyết kịp thời các phản ánh, kiến nghị của Nhân dân, doanh nghiệp. Qua đó, góp phần khơi dậy trong Nhân dân, phát huy ý chí tự lực, tự cường; khát vọng phát triển đất nước, tỉnh nhà phồn vinh, hạnh phúc; duy trì là một trong những tỉnh phát triển dẫn đầu của vùng đồng bằng sông Cửu Long và trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030.
Chương trình cũng nêu rõ các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt quan điểm “Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thông chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Trong đó, Đảng lãnh đạo; chính quyền tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội làm tham mưu và nòng cốt”; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Nội dung chương trình, kế hoạch công tác dân vận của các cấp ủy phải toàn diện trên các lĩnh vực, bảo đảm yêu cầu chỉ đạo của Đảng và phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh. Tổ chức tốt việc sơ kết, tổng kết; tăng cuờng công tác kiểm tra, giám sát về công tác dân vận. Triển khai thực hiện bảo đảm về thời gian và hiệu quả các yêu cầu, nhiệm vụ công tác dân vận của Đảng. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của Nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.
Thống nhất nhận thức và hành động tạo dấu ấn mạnh mẽ công tác dân vận trong nhiệm kỳ, tập trung nghiên cứu, chỉ đạo có giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị phục vụ việc triển khai các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, được Nhân dân đồng thuận cao, hạn chế đến mức thấp nhất việc phát sinh bức xúc, khiếu kiện, việc xảy ra các “điểm nóng” trong Nhân dân.
Chương trình đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm sau: (1) Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác dân vận; (2) Công tác dân vận của cơ quan nhà nước; (3) Công tác dân vận của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; (4) Công tác dân vận của lực lượng vũ trang; (5) Công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; (6) Công tác dân vận đối với đồng bào tôn giáo.
Về tổ chức thực hiện, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh giao Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành kế hoạch chỉ đạo thực hiện công tác dân vận hằng năm. Thực hiện chế độ báo cáo sơ kết hàng năm; đánh giá tổng kết vào cuối nhiệm kỳ; Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh; Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng tỉnh; đảng ủy các xã, phường, đặc khu và đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; hằng năm báo cáo kết quả thực hiện, cuối nhiệm kỳ báo cáo tổng kết với Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy).
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy, các ban tham mưu của Tỉnh ủy, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh, Đảng ủy cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng tỉnh và các cơ quan có liên quan, theo dõi tình hình, kết quả triển khai thực hiện; tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy báo cáo kết quả thực hiện hằng năm và tổng kết vào năm 2030 phục vụ cho việc nghiên cứu, chuẩn bị xây dựng văn kiện cho Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II, nhiệm kỳ 2030-2035.
8. Kế hoạch số 65-KH/TU, ngày 09/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 10/01/2026 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới
Kế hoạch nêu rõ mục đích quán triệt, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được nêu trong Chỉ thị số 58-CT/TW nhằm tạo sự chuyển biến rõ nét về nhận thức và tăng cường trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới.
Xây dựng đội ngũ công nhân của tỉnh phát triển toàn diện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp cao, ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và tinh thần trách nhiệm xã hội cho công nhân; góp phần xây dựng giai cấp công nhân An Giang phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Đồng thời, phát động và duy trì thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động, trọng tâm là “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Tăng cường đẩy mạnh công tác tư tưởng, định hướng dư luận, củng cố niềm tin của cán bộ, đoàn viên, hội viên, công nhân viên chức lao động đối với sự lãnh đạo của Đảng. Chủ động phòng ngừa, hạn chế các nguy cơ phát sinh điểm nóng về quan hệ lao động, đình công tự phát, tranh chấp lao động; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp, địa bàn biên giới, khu vực có đông lao động di cư. Phát huy tinh thần ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển tỉnh An Giang nhanh và bền vững, duy trì là một trong những tỉnh phát triển dẫn đầu của vùng đồng bằng sông Cửu Long và trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030.
Kế hoạch đề ra 5 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Tăng cường sự hợp tác, đoàn kết giữa chủ doanh nghiệp với công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức công đoàn; Tăng cường phối hợp của các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; Đổi mới nội dung và hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục; Củng cố, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác tuyên truyền, giáo dục.
Về tổ chức thực hiện, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động tổ chức phổ biến, quán triệt Chỉ thị số 58-CT/TW của Ban Bí thư và Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đến toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, công nhân, viên chức lao động; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
Đối với Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ngành rà soát, đề xuất hoàn thiện chính sách liên quan đến tổ chức công đoàn và người lao động; tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho người lao động trong doanh nghiệp; hướng dẫn người sử dụng lao động bố trí thời gian phù hợp để người lao động tham gia các hoạt động này theo tinh thần Chỉ thị số 58-CT/TW.
Đối với Đảng ủy cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân bảo đảm thiết thực, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn và loại hình doanh nghiệp. Phối hợp nắm bắt, phản ánh kịp thời tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, kiến nghị với cấp ủy, chính quyền các cấp giải quyết những vấn đề bức xúc, phát sinh từ cơ sở, chủ động tham gia phòng ngừa, hạn chế tranh chấp lao động, đình công trái pháp luật.
Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến công nhân lao động nhằm bảo đảm công tác tuyên truyền, giáo dục được tiến hành dân chủ, hiệu quả, gắn với thực tế đời sống công nhân.
Chỉ đạo Liên đoàn Lao động tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng nội dung, sản phẩm tuyên truyền, giáo dục và cụ thể hóa thành kế hoạch trực tiếp tổ chức triển khai, thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng và pháp luật cho công nhân tại cơ sở. Phối hợp củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức và đội ngũ cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước; quan tâm bồi dưỡng lực lượng nòng cốt, đoàn viên ưu tú là công nhân, tạo nguồn phát triển đảng viên mới; hướng dẫn cơ sở phát huy vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, đẩy mạnh đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp; tham gia giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đên công nhân, người lao động.
Đối với Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tham mưu tổ chức phổ biến, quán triệt triển khai, hướng dẫn tuyên truyền thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW và Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy phù hợp với tình hình thực tế địa phương. Chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các cơ quan liên quan giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát Kế hoạch này; định kỳ báo cáo, sơ, tổng kết theo quy định.
9. Chỉ thị số 07-CT/TU, ngày 17/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang, tiếp tục tăng cường công tác quản lý đoàn viên, hội viên và nâng cao chất lượng hoạt động các chi đoàn, chi hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Chỉ thị nêu rõ: Để tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của các cấp ủy đảng về nâng cao chất lượng quản lý, sinh hoạt đoàn viên, hội viên và hiệu quả hoạt động của chi đoàn, chi hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục lãnh đạo tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện đầy đủ, sâu sắc Kết luận số 43-KL/TW, ngày 07/01/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới; Thông báo kết luận số 160-TB/TW, ngày 15/01/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Kết luận số 62-KL/TW của Bộ Chính trị về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, trọng tâm là Chương trình hành động số 16-CTr/TU, ngày 05/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng... gắn với nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và tình hình thực tế của địa phương, đơn vị.
Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động đối với công tác dân vận của các cấp ủy, chính quyền; thường xuyên quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; định kỳ 06 tháng, năm và khi cần thiết, Ban Thường vụ, Thường trực cấp ủy làm việc với Ban Tuyên giáo và Dân vận, Ban xây dựng Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội về công tác dân vận.
Phân công đảng viên của xã, phường, đặc khu phụ trách hộ gia đình và tham gia sinh hoạt với đoàn thể khóm, ấp, khu phố; bí thư đảng ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân, chủ tịch ủy ban mặt trận Tổ quốc xã, phường, đặc khu trực tiếp đối thoại và kịp thời giải quyết phù hợp những đề xuất, kiến nghị của đoàn viên, hội viên và Nhân dân trên địa bàn; phân công hội viên cựu chiến binh gương mẫu, có quá trình tham gia kháng chiến, có uy tín, có năng khiếu kể chuyện về truyền thống lịch sử cách mạng, làm bí thư danh dự chi đoàn khóm, ấp, khu phố để tham gia sinh hoạt chi đoàn, giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
Hai là, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành, ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng hoạt động tốt theo yêu cầu, nhiệm vụ; nghiên cứu, xem xét giao một số công trình, phần việc trong thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ xã, phường, đặc khu.
Cung cấp nội dung các dự thảo về chủ trương, chính sách liên quan đến đoàn viên, hội viên để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức phản biện, góp ý xây dựng chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình thực tế và đảm bảo khả thi khi tổ chức thực hiện. Cân đối ngân sách, phân bổ kinh phí bảo đảm hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội nhất là định mức chi cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội, hoạt động của ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng. Quan tâm bổ sung, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đổi mới nội dung, phương thức hoạt động đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Ba là, Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh làm tốt công tác tham mưu cấp ủy và làm nòng cốt trong công tác vận động quần chúng của Đảng; lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội rà soát, quản lý đoàn viên, hội viên, nắm chặt đối tượng theo đúng Điều lệ quy định; ứng dụng công nghệ số trong quản lý đoàn viên, hội viên, kịp thời cập nhật, điều chỉnh biến động số lượng đoàn viên, hội viên; đảm bảo tỷ lệ tập hợp quần chúng vào các tổ chức chính trị - xã hội đạt tỷ lệ 60% số đối tượng theo Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; quan tâm thành lập công đoàn cơ sở, phát triển đoàn viên ở các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước.
Phát huy tích cực, hiệu quả việc triển khai thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo”; các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; các phong trào thi đua yêu nước, gắn với thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội... nhằm tuyên truyền vận động để người dân tự nguyện tham gia vào hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội; sàng lọc, rà soát đưa ra khỏi danh sách những đoàn viên, hội viên vi phạm Điều lệ, không còn tha thiết với tổ chức đoàn, hội hoặc đã chuyển công tác, chuyển nơi cư trú hay đi làm ăn xa không trở về địa phương đảm bảo đúng quy định Điều lệ và Hướng dẫn thi hành Điều lệ của từng tổ chức chính trị - xã hội... Quan tâm tổ chức cho đoàn viên, hội viên và Nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Bốn là, ban thường vụ đảng ủy các xã, phường, đặc khu chỉ đạo chính quyền thực hiện tốt chương trình phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; tạo điều kiện để các tổ chức chính trị - xã hội đảm nhận một số công trình, phần việc trong thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát nâng cao chất lượng quản lý đoàn viên, hội viên; duy trì làm việc định kỳ với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội theo quy chế, để kịp thời giải quyết những khó khăn, kiến nghị, định hướng hoạt động. Thực hiện tốt việc kiện toàn tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, tuyển dụng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị có phẩm chất chính trị tốt, tâm huyết, có kỹ năng làm công tác đoàn thể.
Năm là, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tham mưu theo dõi, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện tốt Chỉ thị này; định kỳ hằng năm báo cáo kết quả thực hiện về Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Chỉ thị này được tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện đến chi bộ.
10. Kế hoạch số 71-KH/TU, ngày 20/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về phát động thi đua thực hiện các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng trên địa bàn tỉnh An Giang, giai đoạn 2026-2030
Kế hoạch nhằm phát huy những kết quả đạt được giai đoạn 2021-2025, tiếp tục phát động thi đua thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị các cấp trong sạch vững mạnh, góp phần thực hiện hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng; công tác phát triển đoàn viên, hội viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi đoàn, chi hội, tổ hội, nhất là ở địa bàn dân cư.
Đồng thời, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, công tác thi đua, khen thưởng đúng thực chất, tránh hình thức, lãng phí, hướng về cơ sở địa bàn dân cư, có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức, bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Nâng cao tinh thần, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên và Nhân dân; huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị, vận động đông đảo đoàn viên, hội viên và Nhân dân, các tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội, từ thiện, cộng đồng doanh nghiệp... tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh trên địa bàn tỉnh.
Kế hoạch đề ra 4 nội dung thi đua: (1) Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng; thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, về công tác tuyên giáo và dân vận, dân tộc, tôn giáo; đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hổ Chí Minh” tạo bước chuyển biến rõ nét trong nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân; (2) Trên cơ sở kết quả thực hiện thời gian qua; tiếp tục phát động thi đua thực hiện các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng trên tất cả các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị các cấp trong sạch vững mạnh; (3) Củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng, tăng cường công tác phát triển và quản lý đoàn viên, hội viên; nâng lên chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng các cấp, trong đó, tập trung chú trọng hiệu quả hoạt động của chi đoàn, chi hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; (4) Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại (mạng xã hội, truyền hình, báo điện tử) để tuyên truyền, cổ vũ các phong trào, cuộc vận động một cách rộng rãi và kịp thời. Nội dung tuyên truyền phải gần gũi, dễ hiểu, phản ánh chân thực các câu chuyện, gương người tốt việc tốt để tạo sức lan tỏa, thuyết phục. Lưu ý: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng cấp tỉnh lãnh đạo xây dựng kế hoạch phát động thi đua, thực hiện cụ thể, phù hợp theo hệ thống của tổ chức mình.
Căn cứ Kế hoạch này, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội và hội quần chúng cấp tỉnh, đảng ủy xã, phường, đặc khu chủ động xây dựng kế hoạch, phát động thi đua trong hệ thống; chỉ đạo, giám sát, theo dõi việc phát động thi đua và tổ chức các phong trào, cuộc vận động theo đợt, theo chuyên đề; thực hiện công tác thi đua, khen thưởng bảo đảm theo quy định.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chỉ đạo, định hướng các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội, phát hiện kịp thời các gương điển hình tiên tiến, mô hình, tập thể, cá nhân trong thực hiện phong trào, cuộc vận động. Chủ trì, phối hợp Văn phòng Tỉnh ủy và các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn việc thực hiện Kế hoạch này; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy kế quả thực hiện.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang