1. Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”
Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, thay thế Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Nội dung Chỉ thị số 07-CT/TW nêu rõ: Qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; ngăn ngừa có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; tạo động lực quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước.
Tuy nhiên, ở một số nơi, việc học tập và làm theo Bác còn hình thức, thiếu chiều sâu, chưa chú trọng đúng mức việc thực hành, vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh; chưa tạo được chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động; trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chưa gắn với giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của Nhân dân; biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung chậm được khắc phục. Công tác kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có lúc, có nơi chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt; hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế; cơ chế ràng buộc trách nhiệm và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện còn thiếu cụ thể.
Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đòi hỏi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực; gắn với chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ Nhân dân. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cán bộ, đảng viên tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy giá trị di sản Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, được kết tinh từ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách của Người; là nguồn sức mạnh, động lực to lớn để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn phát triển mới.
Học tập, thực hành theo Bác phải gắn với trách nhiệm nêu gương, đạo đức công vụ, phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, gần dân, sát dân, vì dân; thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tôn trọng, lắng nghe, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng; góp phần xây dựng Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh”, đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong việc giữ gìn đạo đức, lối sống, thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo kết quả học tập, thực hành theo Bác.
2. Học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng văn hoá lãnh đạo, văn hoá công vụ và trách nhiệm thực thi công vụ văn hoá ứng xử của cán bộ, đảng viên; cốt lõi là vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị.
Học tập, thực hành theo Bác, trước hết là về bản lĩnh và tư duy đổi mới: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; tập trung tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển.
Thực hành đạo đức, phương pháp và phong cách làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả, sâu sát thực tiễn, gần dân, sát dân, vì dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; kịp thời thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám quyết, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá trong lãnh đạo, quản lý; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; tích cực đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Gắn việc học tập, thực hành theo Bác với các phong trào thi đua yêu nước; khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
3. Phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nêu gương phải trở thành phương thức lãnh đạo quan trọng; lấy sự nêu gương để tạo uy tín, lan toả trách nhiệm, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và hệ thống chính trị. Trách nhiệm nêu gương phải được cụ thể hoá thành tiêu chí đánh giá trong công tác cán bộ, tập trung vào ba nhóm nội dung: Bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới và năng lực tổ chức thực hiện: Kiên định về chính trị, tư tưởng; chủ động nắm bắt tình hình, dự báo chính xác, quyết sách kịp thời; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đạo đức công vụ và kỷ luật thực thi: Gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống; nói đi đôi với làm; làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn, có kết quả và sản phẩm cụ thể; không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tinh thần phục vụ Nhân dân: Gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, vì dân; liêm chính, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch; chống quan liêu, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm.
4. Đổi mới công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng hệ thống dữ liệu, học liệu số về học tập, thực hành theo Bác, bảo đảm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá, phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn, nhất là thanh thiếu niên, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và kiều bào. Tăng cường đối thoại, xử lý tình huống thực tiễn, gắn chặt với thực hiện nhiệm vụ được giao.
Tập trung nghiên cứu, làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của Di sản Hồ Chí Minh trước yêu cầu mới; nhân rộng mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; biểu dương kịp thời các điển hình tiên tiến trong học tập, thực hành theo Bác. Tăng cường kỷ luật phát ngôn, văn hoá ứng xử của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng; chủ động lan toả thông tin chính thống, tích cực; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác trực diện các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc. Phát huy vai trò của báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật trong tuyên truyền, quảng bá các tác phẩm, mô hình, tư liệu, hình ảnh, điển hình về học tập, thực hành theo Bác.
5. Chuyển mạnh việc kiểm tra, giám sát xây dựng kế hoạch, đăng ký sang kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hiệu quả giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc, mức độ hài lòng của Nhân dân và chuyển biến thực tế trong đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên; đồng thời, gắn với thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và trì trệ. Đẩy mạnh ứng dựng công nghệ số trong theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá và công khai kết quả thực hiện. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và Nhân dân. Xử lý nghiêm minh, kịp thời tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và cá nhân vi phạm; kiên quyết khắc phục triệt để bệnh hình thức và báo cáo không đúng thực chất trong học tập, thực hành theo Bác.
6. Tổ chức thực hiện
- Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể; đưa vào nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; người đứng đầu phải công khai cam kết cá nhân và tiêu chí nêu gương cụ thể. Lấy kết quả thực hiện cam kết làm điều kiện để đánh giá, xếp loại đảng viên và quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ.
- Đảng ủy Quốc hội thể chế hoá kịp thời, đồng bộ các quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của Chỉ thị vào hệ thống pháp luật; thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ, nghiêm minh, khả thi để tăng cường giám sát tối cao đối với việc tuân thủ pháp luật, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình.
- Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá các quan điểm, yêu cầu của Chỉ thị trong chính sách, pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước; rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính chồng chéo, mâu thuẫn để khơi thông điểm nghẽn thể chế; gắn thực hành đạo đức công vụ với đẩy mạnh cải cách hành chính; chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương chuẩn hoá tiêu chí đạo đức công vụ và tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức; thể chế hoá các quy định pháp luật, tạo cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, công khai, minh bạch thông tin để Nhân dân và doanh nghiệp giám sát hoạt động công vụ theo quy định.
- Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội; phát huy vai trò giám sát của Nhân dân về đạo đức, lối sống, thực thi công vụ và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp; thiết lập các cơ chế phản hồi số để tiếp nhận, xử lý thông tin trực tiếp từ Nhân dân.
- Ban Tổ chức Trung ương bổ sung tiêu chí học tập, thực hành theo Bác vào khung đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm; coi đây là tiêu chí quan trọng trong quy hoạch, điều động, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ.
- Ủy ban Kiểm tra Trung ương bổ sung nội dung kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị vào chương trình kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng; hướng dẫn xử lý kỷ luật các hành vi vi phạm; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Kiên quyết xử lý kỷ luật các tập thể, cá nhân có biểu hiện hình thức trong học tập, thực hành theo Bác, không gắn với giải quyết các vấn đề tồn đọng hoặc không có sản phẩm cụ thể.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì nghiên cứu về Di sản Hồ Chí Minh, chú trọng nội dung về bản lĩnh, tư duy kiến tạo phát triển và đạo đức công vụ trong giai đoạn phát triển mới; số hoá dữ liệu Di sản Hồ Chí Minh.
- Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, vận động Nhân dân tìm hiểu, học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, theo dõi, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị. Chủ trì hướng dẫn triển khai học liệu số tương tác cao trong tuyên truyền; phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn gắn việc học tập, thực hành theo Bác với các phong trào thi đua yêu nước.
2. Kết luận số 58-KL/TW của Bộ Chính trị: Tiếp tục nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới
Ngày 26/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 58-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.
Kết luận nêu rõ: Sau hơn ba năm triển khai Nghị quyết số 21-NQ/TW, công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên đạt nhiều kết quả tích cực. Tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được kiện toàn, củng cố phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên được nâng lên; vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở tiếp tục được khẳng định, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.
Tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ một số hạn chế cần khắc phục, như chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên chưa đồng đều; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế; sinh hoạt chi bộ ở một số nơi còn hình thức, chậm đổi mới; công tác tạo nguồn, kết nạp đảng viên ở một số địa phương chưa đạt yêu cầu…
Trong bối cảnh cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kết luận xác định yêu cầu tiếp tục đổi mới toàn diện công tác xây dựng Đảng ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Chuyển trọng tâm từ “củng cố” sang nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
Điểm nhấn quan trọng của Kết luận là chuyển trọng tâm từ “củng cố” sang “nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, quản trị và tổ chức thực hiện ở cơ sở”. Theo đó, tiếp tục xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện mô hình tổ chức của Đảng đồng bộ với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; phát huy vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng phù hợp với từng loại hình, địa bàn và yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
Bộ Chính trị yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo hướng thiết thực, hiệu quả; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng phát triển tổ chức đảng trong khu vực ngoài nhà nước và các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm.
Đổi mới công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên
Đối với công tác phát triển đảng viên, Kết luận nhấn mạnh yêu cầu đổi mới công tác tạo nguồn, chủ động phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú; thực hiện kết nạp đảng viên theo hướng linh hoạt, phù hợp đặc điểm từng địa phương, cơ quan, đơn vị nhưng bảo đảm coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, không hạ thấp tiêu chuẩn. Việc đánh giá đảng viên phải lấy bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu.
Bên cạnh đó, quan tâm phát triển đảng viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào tôn giáo, địa bàn khó khăn, gắn với nâng cao dân trí, đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ và củng cố hệ thống chính trị cơ sở.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng
Một nội dung mới đáng chú ý là đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác đảng viên. Kết luận yêu cầu đổi mới toàn diện công tác quản lý đảng viên trên nền tảng số; xây dựng hệ thống quản trị, điều hành, giao việc, theo dõi, kiểm tra, giám sát liên thông, thống nhất trong toàn Đảng; thực hiện phân công nhiệm vụ cho 100% đảng viên theo nguyên tắc “sáu rõ, một xuyên suốt” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền và một nhiệm vụ - một đầu mối xuyên suốt).
Đồng thời, xây dựng và vận hành thống nhất Thẻ đảng viên điện tử, Hồ sơ đảng viên điện tử; từng bước thực hiện các thủ tục, nghiệp vụ công tác đảng trên môi trường số theo hướng đơn giản hóa, không làm phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết.
Xây dựng hình mẫu người đảng viên trong kỷ nguyên mới
Kết luận đặt ra yêu cầu xây dựng “hình mẫu người đảng viên trong kỷ nguyên mới”, thực hành “4 kiên định”, giữ vững bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, gắn bó mật thiết với Nhân dân; có phẩm chất, đạo đức, uy tín, năng lực, tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.
Để triển khai Kết luận, Bộ Chính trị giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu ban hành các văn bản cụ thể hóa Kết luận này; tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với hệ thống chính trị 3 cấp gắn với chuyển đổi số, vận hành hệ thống dữ liệu thống nhất, liên thông trong toàn Đảng, đơn giản hóa thủ tục nghiệp vụ công tác đảng và quản lý đảng viên trên môi trường số; xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên hằng năm và theo nhiệm kỳ; tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị.
3. Kết luận số 56-KL/TW của Bộ Chính trị: Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Ngày 24/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 56-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
Sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW, công tác phòng, chống tội phạm đạt nhiều kết quả tích cực; nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội được nâng lên; vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước tiếp tục được tăng cường; tình hình tội phạm từng bước được kiềm chế, góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tiếp tục khắc phục.
Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội xác định công tác phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; chuyển mạnh từ tư duy xử lý sang chủ động phòng ngừa, quản trị rủi ro; kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa với đấu tranh, xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội; kéo giảm bền vững các loại tội phạm, xây dựng địa bàn an toàn, không có tội phạm.
Kết luận nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về phòng, chống tội phạm; đẩy mạnh phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở; đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; tăng cường quản lý địa bàn, quản trị xã hội, kiểm soát các nguy cơ phát sinh tội phạm; nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm không để oan sai, không bỏ lọt tội phạm.
Một trong những điểm mới của Kết luận là yêu cầu tạo đột phá trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm về an ninh, trật tự; kết nối, khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ quản trị an ninh, phòng, chống tội phạm. Đồng thời, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng lực lượng chuyên trách tinh gọn, hiện đại; mở rộng hợp tác quốc tế và ưu tiên bố trí nguồn lực cho các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Bộ Chính trị giao Đảng ủy Công an Trung ương chủ trì theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Kết luận; đồng thời phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, trong đó Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì định hướng, tăng cường công tác tuyên truyền, góp phần xây dựng văn hóa bài trừ tội phạm trong xã hội.
4. Chương trình hành động của Tỉnh ủy An Giang thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Ngày 22/6/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang ban hành Chương trình hành động số 26-CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 07/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và Kết luận số 43-KL/TW, ngày 04/6/2026 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030.
Chương trình hành động xác định mục tiêu tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng; gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát ngay từ cơ sở, nhất là ở cấp xã, phường, đặc khu. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, liêm chính, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Để thực hiện mục tiêu trên, Chương trình đề ra 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm: quán triệt, triển khai nghiêm túc các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; rà soát, hoàn thiện các quy định, quy trình, cơ chế về công tác kiểm tra, giám sát; đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp kiểm tra theo hướng chuyển trọng tâm sang giám sát thường xuyên, chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm từ sớm, từ xa; đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện ngành Kiểm tra Đảng; kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra; tăng cường phối hợp, liên thông giữa cơ quan kiểm tra với các cơ quan có liên quan.
Chương trình nhấn mạnh yêu cầu tăng cường giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và Tỉnh ủy; tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh giao các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì công tác tuyên truyền, quán triệt; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện và định kỳ tham mưu sơ kết, tổng kết theo quy định.
5. Chương trình hành động của Tỉnh ủy An Giang thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TW về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị
Ngày 24/6/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang ban hành Chương trình hành động số 28-CTr/TU thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị, nhằm cụ thể hóa chủ trương của Trung ương và xây dựng không gian mạng của tỉnh an toàn, tin cậy, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong tình hình mới.
Chương trình được ban hành trong bối cảnh hạ tầng, dữ liệu và năng lực bảo đảm an ninh mạng của tỉnh vẫn còn những hạn chế, đòi hỏi phải nâng cao năng lực bảo vệ không gian mạng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
Chương trình xác định mục tiêu xây dựng không gian mạng của tỉnh an toàn, vững mạnh, có năng lực phòng vệ và khả năng chống chịu cao; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trên không gian mạng; phát triển hạ tầng an ninh mạng, hạ tầng số hiện đại, góp phần xây dựng chính quyền số, kinh tế số, xã hội số và công dân số, phấn đấu đưa An Giang trở thành địa phương thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu.
Để thực hiện mục tiêu trên, Chương trình đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị về an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu; hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng và các hệ thống giám sát, cảnh báo, ứng cứu sự cố; xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp cận công nghệ và kinh nghiệm tiên tiến trong lĩnh vực an ninh mạng.
Điểm nhấn của Chương trình là chuyển từ tư duy “phòng thủ bị động” sang “phòng thủ chủ động, tích cực”, chủ động nhận diện, phòng ngừa và xử lý nguy cơ từ sớm, từ xa; đồng thời gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả bảo đảm an ninh mạng tại từng cơ quan, đơn vị, địa phương.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể hóa Chương trình thành các kế hoạch, đề án, cơ chế thực hiện; Đảng ủy Công an tỉnh và Đảng ủy Quân sự tỉnh chủ trì triển khai nhiệm vụ theo lĩnh vực phụ trách; Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong toàn hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về vai trò, ý nghĩa của công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong tình hình mới.
6. Nghị định số 85/2026/NĐ-CP ngày 25/3/2026 của Chính phủ về bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Nghị định gồm 45 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2026 và thay thế Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:
Nghị định quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 127 Luật Bảo hiểm xã hội, gồm: tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, thiết lập, quản lý và đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; doanh nghiệp quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Nghị định này không điều chỉnh các nội dung sau: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; Hoạt động cung cấp sản phẩm bảo hiểm hưu trí của doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn; Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán của các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Về quy định tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, Nghị định quy định: Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung là người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.
Nghị định nhấn mạnh, việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.
Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.
Căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung và thực hiện đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.
Điều kiện để người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp phải được nêu cụ thể tại văn bản thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trường hợp người sử dụng lao động có điều kiện về thời gian làm việc tối thiểu đối với người lao động thì không quá 5 năm.
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện nêu trên, người lao động cũng được hưởng quyền lợi khi thuộc một trong các trường hợp sau: bị tử vong; đang mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS); có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc là người khuyết tật đặc biệt nặng; người lao động là công dân nước ngoài không tiếp tục cư trú tại Việt Nam hoặc giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.
7. Kế hoạch của Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang về tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
Ngày 01/7/2026, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang ban hành Kế hoạch số 79-KH/BTGDVTU về tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027).
Nội dung tuyên truyền:
Tập trung làm rõ truyền thống vẻ vang và sự hy sinh, cống hiến to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng; tư tưởng, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác thương binh, liệt sĩ; chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ưu đãi người có công; những thành tựu nổi bật sau 80 năm thực hiện chính sách người có công; kết quả các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Toàn dân chăm sóc người có công với cách mạng”; biểu dương những tập thể, cá nhân tiêu biểu, mô hình hay, cách làm sáng tạo trong công tác tri ân.
Đồng thời, tăng cường tuyên truyền Chiến dịch cao điểm “500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin”, việc thu nhận mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận sự hy sinh, cống hiến của các thế hệ đi trước.
Kế hoạch tuyên truyền 03 đợt:
- Đợt I từ nay đến kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (cao điểm trong tháng 7/2026) tập trung tuyên truyền truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”; chủ trương, chính sách đối với người có công; các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ và kết quả bước đầu triển khai Chiến dịch cao điểm “500 ngày đêm”.
- Đợt II (từ tháng 8 đến hết năm 2026) tiếp tục tuyên truyền kết quả các hoạt động tri ân, việc hoàn thiện chính sách người có công, tiến độ Chiến dịch 500 ngày đêm, công tác tu bổ nghĩa trang, công trình ghi công liệt sĩ và các hoạt động giáo dục truyền thống.
- Đợt III (từ đầu năm 2027 đến Kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, cao điểm từ tháng 6/2027 - 8/2027) tập trung tuyên truyền những thành tựu nổi bật sau 80 năm thực hiện chính sách ưu đãi người có công, kết quả Chiến dịch 500 ngày đêm và các hoạt động trọng điểm kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ…
Yêu cầu:
Đổi mới nội dung, hình thức và phương thức tuyên truyền theo hướng đa dạng, hiện đại, phù hợp với từng đối tượng; kết hợp hài hòa giữa tuyên truyền trên báo chí, Cổng Thông tin điện tử, hệ thống thông tin cơ sở, mạng xã hội và các nền tảng số với tuyên truyền trực quan, cổ động, văn hóa, văn nghệ, triển lãm, tọa đàm, giao lưu, gặp mặt nhân chứng lịch sử, giáo dục truyền thống tại các “địa chỉ đỏ”, nghĩa trang liệt sĩ và công trình ghi công liệt sĩ.
Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu số trong sản xuất các sản phẩm truyền thông; tăng cường nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, kịp thời định hướng thông tin, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc về lịch sử, người có công với cách mạng và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Kế hoạch giao rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan báo chí trong tổ chức triển khai, bảo đảm công tác tuyên truyền được thực hiện đồng bộ, thiết thực, hiệu quả, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.
8. Chương trình chỉ đạo quý III/2026 của Tỉnh ủy An Giang: Tập trung thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, tạo đà hoàn thành mục tiêu năm 2026
Ngày 10/7/2026, Tỉnh ủy An Giang ban hành Chương trình số 30-CTr/TU về chương trình chỉ đạo quý III/2026, xác định những nhiệm vụ trọng tâm trên các lĩnh vực nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chuẩn bị các điều kiện phục vụ Hội nghị APEC 2027.
Về xây dựng hệ thống chính trị: Tỉnh ủy yêu cầu tập trung triển khai hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; chuyển trọng tâm từ sắp xếp tổ chức bộ máy sang nâng cao chất lượng vận hành của chính quyền địa phương hai cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, công tác dân vận.
Trong lĩnh vực kinh tế: Tỉnh ủy chỉ đạo tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu phát triển năm 2026; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án 01 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp; phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nuôi biển công nghệ cao; đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm, nhất là hạ tầng giao thông, công nghiệp, logistics, thương mại biên giới và phát triển du lịch.
Đối với công tác chuẩn bị Hội nghị APEC 2027: Tỉnh ủy yêu cầu tập trung đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng, hoàn thiện cơ chế, chính sách; đồng thời chuẩn bị tốt các điều kiện về nhân lực, lễ tân, tuyên truyền, chỉnh trang đô thị, môi trường, y tế và hậu cần, bảo đảm phục vụ Hội nghị theo đúng tiến độ.
Về văn hóa - xã hội: Chương trình nhấn mạnh việc tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể thao gắn với các ngày lễ, kỷ niệm; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân; đẩy mạnh chuyển đổi số, triển khai sâu rộng Phong trào “Bình dân học vụ số”, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ công nghệ số cộng đồng; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chăm lo người có công, giảm nghèo bền vững và giải quyết việc làm.
Lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Tỉnh ủy yêu cầu lực lượng vũ trang, các ngành chức năng chủ động nắm chắc tình hình, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn các sự kiện chính trị quan trọng; tiếp tục đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng cháy, chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.
Đối với công tác dân tộc, tôn giáo: Chương trình yêu cầu triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo; phát huy vai trò của chức sắc, chức việc, người có uy tín trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Căn cứ Chương trình chỉ đạo quý III/2026 của Tỉnh ủy, các cấp ủy, cơ quan, đơn vị cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; tập trung tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả, góp phần hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
9. Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang chấn chỉnh việc thực hiện quy định về cờ Đảng Cộng sản Việt Nam và sử dụng cờ Đảng
Ngày 17/7/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Công văn số 607-CV/TU về việc chấn chỉnh thực hiện Quy định số 99-QĐ/TW, ngày 27/02/2023 của Ban Bí thư về cờ Đảng Cộng sản Việt Nam và việc sử dụng cờ Đảng.
Công văn được ban hành nhằm khắc phục hạn chế trong việc sử dụng cờ Đảng tại một số địa phương, cơ quan, đơn vị như: quán triệt quy định chưa đầy đủ; sử dụng cờ Đảng, biểu tượng Búa Liềm và hình ảnh cờ Đảng chưa đúng quy cách trên pano, áp phích, tài liệu tuyên truyền, báo chí, Internet và mạng xã hội; công tác kiểm tra, giám sát, kiểm duyệt nội dung còn chưa thường xuyên.
Để bảo đảm việc thực hiện thống nhất, nghiêm túc Quy định số 99-QĐ/TW, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm.
Đối với các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, tiếp tục quán triệt sâu rộng Quy định số 99-QĐ/TW và các văn bản hướng dẫn của Trung ương; thường xuyên kiểm tra, rà soát việc sử dụng cờ Đảng, kịp thời chấn chỉnh, thay thế các mẫu cờ, hình ảnh không đúng quy định; tăng cường quản lý việc sử dụng cờ Đảng trên Internet, mạng xã hội và trong các hoạt động tuyên truyền trực quan.
Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động in ấn, quảng cáo, truyền thông, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao có sử dụng hình ảnh cờ Đảng; rà soát, chỉnh sửa các pano, áp phích, bảng biểu, tài liệu tuyên truyền và xử lý nghiêm các hành vi sử dụng sai quy định hoặc lợi dụng hình ảnh cờ Đảng để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan báo chí nâng cao trách nhiệm kiểm duyệt nội dung, hình ảnh, không để xảy ra sai sót trong việc sử dụng cờ Đảng, biểu tượng Búa Liềm và hình bản đồ Việt Nam trên các sản phẩm truyền thông.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân thực hiện đúng quy định về treo, sử dụng cờ Đảng, cờ Tổ quốc; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định số 99-QĐ/TW; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các sai sót, vi phạm trong sử dụng cờ Đảng trên báo chí, Internet, mạng xã hội và các hoạt động tuyên truyền trực quan; định kỳ tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong thời gian tới.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang