Thông tin trong nước (số tháng 5 năm 2026)

Thứ ba - 28/04/2026 19:02
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn kiểm tra, giám sát công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, tại khu vực bỏ phiếu số 8, phường Hải An, thành phố Hải Phòng. Ảnh: TL
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn kiểm tra, giám sát công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, tại khu vực bỏ phiếu số 8, phường Hải An, thành phố Hải Phòng. Ảnh: TL
 
1. Một số kết quả nổi bật và bài học kinh nghiệm của Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, ngày 31/3/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh 5 thành công và 5 bài học kinh nghiệm quan trọng của cuộc bầu cử, đó là:
5 thành công của cuộc bầu cử: 
Thứ nhất, điểm nổi bật nhất của cuộc bầu cử lần này là sự tham gia đông đảo, trách nhiệm và đầy niềm tin của cử tri cả nước. Theo báo cáo, đã có 76.198.214 trên 76.423.940 cử tri đi bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 99,70% - mức cao nhất từng được ghi nhận. Đặc biệt, không có đơn vị bầu cử nào phải bầu lại; 500 đại biểu Quốc hội đã được bầu đủ, đồng thời Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã trong cả nước cũng được bầu đủ theo quy định. Những con số này không chỉ phản ánh hiệu quả tổ chức, mà sâu xa hơn là phản ánh niềm tin chính trị, ý thức công dân và tinh thần làm chủ của nhân dân đối với Nhà nước và chế độ ta.
Thứ hai, chất lượng, cơ cấu và tính đại diện của đội ngũ đại biểu tiếp tục được nâng lên. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội dự kiến hoạt động chuyên trách đạt 40%, cao nhất từ trước tới nay. Quốc hội khóa XVI có 150 đại biểu nữ, chiếm 30%; 76 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 15,2%; 18 đại biểu ngoài Đảng, chiếm 3,6%; 33 đại biểu dưới 40 tuổi, chiếm 6,6%. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử Quốc hội nước ta có đại biểu dân tộc Ơ Đu. Đây là những kết quả có ý nghĩa rất sâu sắc, thể hiện bước tiến đồng thời ở cả hai mặt: nâng cao chất lượng đại biểu và bảo đảm tính bao trùm, tính đại diện của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Thứ ba, công tác chuẩn bị được triển khai sớm, bài bản, thống nhất và chặt chẽ từ Trung ương tới cơ sở. Trước ngày bầu cử, Hội đồng Bầu cử Quốc gia đã ban hành 27 văn bản pháp lý theo luật định, cùng 14 nghị quyết và văn bản hướng dẫn, thêm 34 tài liệu giải đáp kỹ thuật cho địa phương. Từ công tác hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách cử tri, tổ chức khu vực bỏ phiếu, đến kiểm tra, giám sát, tuyên truyền, bảo đảm an ninh, tất cả đều được tiến hành theo đúng lộ trình, đồng bộ và thống nhất. Chính sự chuẩn bị kỹ lưỡng này đã tạo nên nền tảng vững chắc cho một cuộc bầu cử thành công trên phạm vi cả nước.
Thứ tư, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ vào tổ chức bầu cử đã có bước tiến rõ rệt. Các nền tảng công nghệ đã được triển khai đồng bộ, giúp thông tin được truyền tải nhanh chóng, chính xác và an toàn; việc khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID trong quản lý cử tri đã góp phần nâng cao hiệu quả, độ chính xác và tính minh bạch của toàn bộ quy trình. Cùng với đó, cổng thông tin điện tử của Hội đồng Bầu cử Quốc gia và chuyên trang thông tin bầu cử đa ngôn ngữ đã hỗ trợ mạnh mẽ cho công tác thông tin, tuyên truyền, giúp cử tri tiếp cận thông tin chính thống, đầy đủ và kịp thời.
Thứ năm, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững trong suốt quá trình bầu cử. Các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến bầu cử được tiếp nhận, xử lý kịp thời, đúng quy định; số lượng đơn thư thấp hơn nhiệm kỳ trước; không phát sinh vụ việc nghiêm trọng hay tình huống bất thường ảnh hưởng đến kết quả bầu cử. Điều đó cho thấy sự chủ động, chuyên nghiệp và trách nhiệm rất cao của cả hệ thống chính trị, của lực lượng chức năng và của các cơ quan bầu cử các cấp.
5 bài học kinh nghiệm quan trọng:
Một là, phải bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, xuyên suốt; đồng thời phát huy cao độ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Cuộc bầu cử vừa qua có sự chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất, kịp thời của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Hội đồng Bầu cử Quốc gia; sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng của các cơ quan ở Trung ương; cùng với sự vào cuộc chủ động, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở từng địa phương, cơ sở. Thực tiễn cho thấy, ở đâu cấp ủy lãnh đạo sâu sát, chính quyền tổ chức quyết liệt, các lực lượng phối hợp chặt chẽ, đồng bộ thì ở đó công tác bầu cử được tiến hành nghiêm túc, nền nếp, đúng pháp luật và hiệu quả. Điều đó một lần nữa khẳng định rằng, để công tác bầu cử thành công, yếu tố có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, gắn với tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cao của cả hệ thống chính trị.
Hai là, công tác nhân sự phải được chuẩn bị thật kỹ lưỡng, thật dân chủ, thật đúng pháp luật và thật vì lợi ích chung. Chất lượng đại biểu quyết định chất lượng hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Vì vậy, từng khâu từ hiệp thương, giới thiệu, thẩm tra, công bố danh sách, tiếp xúc cử tri, đến tổ chức bỏ phiếu và kiểm phiếu đều phải công khai, minh bạch, chặt chẽ, khách quan. Bầu cử thành công không chỉ là bầu đủ số lượng, mà quan trọng hơn là lựa chọn được những người thật sự có đức, có tài, có bản lĩnh, có năng lực hành động và có tinh thần phụng sự Nhân dân.
Ba là, phải lấy người dân làm trung tâm của toàn bộ quá trình bầu cử. Tỷ lệ cử tri đi bầu cao nhất từ trước tới nay không phải chỉ nhờ tổ chức tốt, mà còn nhờ cử tri thấy mình được tôn trọng, được thông tin đầy đủ, được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền công dân. Việc tổ chức bỏ phiếu sớm ở 217 khu vực đặc thù tại 11 địa phương cho thấy tinh thần không để bất kỳ cử tri nào bị đứng ngoài Ngày hội dân chủ của đất nước. Đây là bài học rất quan trọng về tính bao trùm, về bảo đảm quyền bầu cử thực chất cho mọi người dân, ở mọi vùng miền, trong mọi điều kiện.
Bốn là, công tác thông tin, tuyên truyền phải đi trước một bước, phải đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung lẫn phương thức. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển nhanh, nếu thông tin chính thống không đến đủ nhanh, đủ rõ, đủ gần dân thì rất dễ để khoảng trống thông tin bị lấp đầy bởi tin sai, tin thiếu kiểm chứng. Cuộc bầu cử vừa qua cho thấy khi chúng ta kết hợp tốt giữa tuyên truyền trực tiếp ở cơ sở với nền tảng số, dữ liệu dân cư, ứng dụng công nghệ và các kênh truyền thông đa dạng, thì hiệu quả vận động, hướng dẫn và tạo đồng thuận xã hội sẽ cao hơn rất nhiều.
Năm là, đây là bài học lớn nhất: thành công của một cuộc bầu cử chỉ thật sự trọn vẹn khi được chuyển hóa thành hiệu quả hoạt động của nhiệm kỳ mới. Lá phiếu của cử tri không dừng lại ở ngày bầu cử; lá phiếu ấy phải được tiếp nối bằng chất lượng lập pháp, bằng hiệu lực giám sát, bằng những quyết sách đúng đắn, kịp thời, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Chính vì vậy, trách nhiệm của Quốc hội khóa XVI và của từng vị đại biểu trúng cử là rất lớn: phải nhanh chóng cụ thể hóa niềm tin của cử tri thành hành động, thành sản phẩm lập pháp, thành hiệu quả giám sát và thành những quyết sách thiết thực phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển đất nước.
2. Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Từ ngày 23-25/3/2026, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã tổ chức Hội nghị lần thứ hai để thảo luận, cho ý kiến và quyết định một số nội dung quan trọng, có ý nghĩa nền tảng đối với nhiệm vụ triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trực tiếp liên quan đến chất lượng lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị; sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn 2026 - 2031 và những năm tiếp theo. Với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, phát huy cao độ trí tuệ tập thể, dân chủ, đổi mới, Hội nghị đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra, trong đó thống nhất cao và thông qua một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua nội dung các văn kiện, nghị quyết:
(1) Về Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIV
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận và cơ bản thông qua Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIV. Quy chế bảo đảm tuân thủ Điều lệ Đảng; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; giữ vững vai trò lãnh đạo thống nhất, trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với các vấn đề chiến lược và chủ trương, chính sách, biện pháp lớn, quan trọng của đất nước, của Đảng trên các lĩnh vực và những thay đổi có tính thời đại của thế giới; phân công, phân cấp, ủy quyền gắn với kiểm soát quyền lực, tăng cường kiểm tra, giám sát; thống nhất với Hiến pháp và pháp luật; phù hợp với thực tiễn bối cảnh mới. 
(2) Về Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cơ bản thống nhất cao dự kiến Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV bao gồm những vấn đề quan trọng, cốt lõi mà Trung ương cần tập trung bàn và đề ra quyết sách nhằm cụ thể hóa Nghị quyết, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nhất là tập trung thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước giai đoạn 2026-2030, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng "2 con số" ngay từ năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tạo đà, tạo khí thế cho những năm tiếp theo. 
Chương trình được xây dựng trên cơ sở bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đã ban hành; gắn chặt với yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới; bảo đảm đồng bộ với nội dung Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIV và thực hiện theo đúng thẩm quyền. Nội dung Chương trình cơ bản bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ giữa các lĩnh vực. Bên cạnh các đề án được xác định trong Chương trình làm việc và các đề án định kỳ báo cáo Trung ương theo quy định, hằng năm, căn cứ vào diễn biến tình hình cụ thể ở trong nước và quốc tế, Bộ Chính trị sẽ xem xét, đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng bổ sung, điều chỉnh Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV cho phù hợp, bảo đảm sự chủ động, linh hoạt, kịp thời và sát thực tiễn. 
(3) Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng 
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận, thống nhất cho rằng, dự thảo Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng được chuẩn bị kỹ lưỡng trên cơ sở Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025); ý kiến, đề xuất của các cấp uỷ trực thuộc Trung ương, các cơ quan, đơn vị, các ban đảng ở Trung ương, các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quy định gồm 33 mục, trong đó kế thừa nội dung của 12 mục của Quy định số 294-QĐ/TW, ngày 26/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về thi hành Điều lệ Đảng.
(4) Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng kế thừa cơ bản Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Dự thảo Quy định gồm 7 chương, 35 điều; đã lược bỏ một số nội dung không còn phù hợp, bổ sung các quan điểm mới, nội dung mới, quy định mới của Trung ương và pháp luật của Nhà nước, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
(5) Về Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV bám sát Điều lệ Đảng và các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đối với công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng; kế thừa Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; bổ sung các vấn đề mới, phát sinh trong thực tiễn, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
(6) Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng là quy định mới của Đảng, nhằm thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc, nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó của tổ chức đảng, đảng viên với các biến động của tình hình mới. Nội dung dự thảo Quy định cụ thể hóa "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng, gồm: (1) Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. (2) Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. (3) Kiên định đường lối đổi mới của Đảng và (4) Kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quy định gồm 5 chương, 16 điều.
Quy định này không chỉ để “chống” (ngăn chặn suy thoái) mà quan trọng hơn là để “xây”. Trọng tâm là bảo đảm vai trò “đi trước, mở đường” của công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, lấy ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số làm phương thức đột phá trong Kỷ nguyên mới; chuyển từ tư duy nhận thức sang hiểu rõ và hành động quyết liệt; từ nhận thức quản lý sang quản trị, kiến tạo, phát triển; từ trạng thái “quản lý, giáo dục” sang “khơi thông, truyền cảm hứng”; khắc phục hiệu quả tình trạng nói không đi đôi với làm, hiểu rõ, nắm được đường lối, chủ trương nhưng không thực hiện; tạo động lực cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung; giải quyết dứt điểm tình trạng “luật đúng nhưng làm khó” đang gây lãng phí nguồn lực.
(7) Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng thay thế Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 30/7/2007, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhằm bảo đảm vận hành thông suốt chính quyền 3 cấp, nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước với quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cụ thể và các nhiệm vụ, giải pháp cả trước mắt và lâu dài.
(8) Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới, kế thừa, bổ sung, phát triển các quan điểm, chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ sau Nghị quyết Trung ương 3 khóa X. Việc ban hành Nghị quyết mới khẳng định quyết tâm của Đảng về kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phát triển đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu tăng trưởng “hai con số” liên tục trong những năm tới; góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu chiến lược 100 năm mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị chỉ đạo tiếp thu, hoàn thiện các văn kiện, nghị quyết trên để ban hành, tổ chức thực hiện.
Thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng biểu quyết thống nhất giới thiệu nhân sự để Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI bầu chức danh lãnh đạo chủ chốt cơ quan nhà nước khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031 theo quy định.
Thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý Tờ trình của Bộ Chính trị về cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước và phương án giới thiệu nhân sự đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo cơ quan nhà nước khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị căn cứ kết quả lấy ý kiến giới thiệu của Trung ương, biểu quyết chính thức giới thiệu nhân sự các chức danh lãnh đạo của cơ quan nhà nước khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031 để làm thủ tục trình Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy định.
Thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu bổ sung đồng chí Nghiêm Xuân Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa giữ chức Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031.
Thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý chủ trương chuyển Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị chỉ đạo các cơ quan chức năng triển khai thực hiện theo quy định, hoàn thành trước ngày 1/4/2026.
Thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị chỉ đạo Đảng ủy Chính phủ căn cứ chủ trương của Trung ương chỉ đạo Chính phủ hoàn chỉnh Đề án, hồ sơ theo quy định để trình tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI xem xét, quyết định.
Thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho ý kiến về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026-2030; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; Kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026-2030. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị căn cứ Nghị quyết, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và ý kiến thảo luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, báo cáo tiếp thu giải trình của Bộ Chính trị chỉ đạo tiếp thu, hoàn chỉnh Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng để ban hành, thực hiện; chỉ đạo Đảng ủy Chính phủ căn cứ kết luận của Trung ương chỉ đạo Chính phủ hoàn chỉnh các báo cáo liên quan để trình tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI xem xét, quyết định.
Thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, thông qua Báo cáo tình hình đất nước quý I/2026; Báo cáo chuyên đề về tình hình thế giới, khu vực và phương hướng triển khai công tác đối ngoại thời gian tới và Báo cáo các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ nhất đến Hội nghị Trung ương lần thứ hai khóa XIV.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức; nêu cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh, khát vọng phát triển; gắn việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận, quy định của Trung ương với yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống Nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hãy hành động theo phương châm: Tự chủ chiến lược - Kiên định hai mục tiêu chiến lược 100 năm - Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt về cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.
3. Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026)
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học tên là Nguyễn Tất Thành, hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, sau đổi tên Hồ Chí Minh) sinh ngày 19/5/1890, tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sinh ra trong gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên trong cảnh đất nước lầm than, chứng kiến các phong trào yêu nước kháng Pháp với các xu hướng khác nhau tiêu biểu như phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, phong trào Duy tân của cụ Phan Chu Trinh hay phong trào khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám…, nổ ra liên tiếp nhưng đều thất bại vì chưa có một đường lối đúng đắn; chứng kiến sự bóc lột, đày đọa tàn bạo của thực dân Pháp với người dân; mắt thấy, tai nghe về sự hy sinh xương máu của đồng bào, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem các nước khác, “sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”. Ngày 05/6/1911, Người xin làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin rời bến cảng Sài Gòn đi Mácxây (Marseille)bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước.
Gần 30 năm sinh sống và hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Tất Thành làm nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình. Ngày 18/6/1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) Bản yêu sách của nhân dân An Nam, yêu cầu các nước tham dự Hội nghị thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Năm 1920, tại Đại hội Tua, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1921, tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa; năm 1922 xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp. Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Ủy viên Thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á; xuất bản cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp... Để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản tại Việt Nam, năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức Cộng sản Đoàn, đào tạo cán bộ để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.
Năm 1929, ba tổ chức: Đông Dương Cộng sản Đảng; An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời tại Việt Nam. Được sự phân công của Quốc tế cộng sản, ngày 03/02/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thống nhất ba tổ chức trên, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1930-1940, Người tiếp tục hoạt động cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức khác trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, bị bắt giam và tù đày, cô lập.
Năm 1941, Người về nước triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I (1946) Người được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi vẻ vang, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” (1954). Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đề ra đường lối đúng đắn cho cuộc kháng chiến chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đi đến thắng lợi cuối cùng; đặt nền móng và không ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, để lại Di chúc - một văn kiện lịch sử vô giá kết tinh tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Người. Sự ra đi của Người là tổn thất to lớn, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân và bạn bè quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc và vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại. Cuộc đời và sự nghiệp của Người mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo. Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh của Người là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết, vững bước đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới, phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng.
4. Phát huy vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản, là lực lượng đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quan điểm này được khẳng định trong nhiều nghị quyết quan trọng, như Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc gần đây, nhất là văn kiện Đại hội XIV của Đảng, tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng; tiếp tục khẳng định là lực lượng xã hội to lớn, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trên khắp các lĩnh vực, từ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đến nông nghiệp công nghệ cao, người lao động đã và đang ngày đêm cống hiến sức lực, trí tuệ, trực tiếp tạo ra sản phẩm, giá trị gia tăng và đóng góp vào ngân sách quốc gia. Đặc biệt, trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất khẩu, đội ngũ công nhân đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao vị thế của nền kinh tế trên trường quốc tế.
Không chỉ dừng lại ở việc tạo ra của cải vật chất, giai cấp công nhân còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, nhiều công nhân đã nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại, làm chủ máy móc, thiết bị tiên tiến, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Những sáng kiến cải tiến kỹ thuật, những giải pháp hợp lý hóa sản xuất xuất phát từ thực tiễn lao động không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn tạo ra những giá trị bền vững cho nền kinh tế.
Bên cạnh những đóng góp về kinh tế, giai cấp công nhân và lực lượng lao động còn có những đóng góp quan trọng trong xây dựng đời sống xã hội, tham gia các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện. Tinh thần tương thân tương ái, sẻ chia trong cộng đồng công nhân đã góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhiều công nhân không chỉ giỏi trong lao động sản xuất mà còn tích cực tham gia xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh tại cơ sở, góp phần hình thành tác phong công nghiệp, lối sống văn minh, hiện đại.
Bước vào giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, những đóng góp của giai cấp công nhân càng trở nên rõ nét, toàn diện và có ý nghĩa chiến lược, gắn liền với sự quan tâm, chăm lo ngày càng thiết thực của Đảng và Nhà nước, như: hệ thống chính sách pháp luật về giáo dục, đào tạo nghề, đào tạo lại và bồi dưỡng kỹ năng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được triển khai tích cực; các quy định về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ sinh lao động và các điều kiện bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao mức sống và bảo đảm an sinh cho công nhân, người lao động. Những chính sách hỗ trợ người lao động trong bối cảnh khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh, đã thể hiện rõ tính nhân văn và sự đồng hành của Nhà nước đối với người lao động. Các chương trình phát triển nhà ở xã hội cho công nhân, các thiết chế công đoàn, các hoạt động chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động ngày càng được quan tâm đầu tư. Vai trò của tổ chức công đoàn trong đại diện, bảo vệ quyền lợi và chăm lo cho công nhân không ngừng được củng cố và phát huy. Thông qua các phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo, công đoàn đã tạo môi trường để công nhân phát huy sáng kiến, nâng cao tay nghề, đồng thời khẳng định vị thế của mình trong doanh nghiệp và xã hội.
Có thể nói, những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hôm nay có sự đóng góp rất quan trọng, thậm chí mang tính quyết định của giai cấp công nhân và lực lượng lao động. Trong thời gian tới, với nền tảng đã được xây dựng cùng với sự quan tâm, chăm lo của Đảng và Nhà nước, giai cấp công nhân và lực lượng lao động Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, nỗ lực vươn lên, cống hiến và đóng góp ngày càng tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (01/5) là dịp để ôn lại truyền thống đấu tranh vẻ vang của giai cấp công nhân và người lao động trên toàn thế giới vì mục tiêu hòa bình, tiến bộ xã hội và quyền, lợi ích chính đáng của người lao động; đồng thời, khẳng định vai trò to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam trong tiến trình cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Một số kết quả chủ yếu kinh tế - xã hội nước ta quý I năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, đặc biệt là bùng phát xung đột Trung Đông tác động tiêu cực đến giá cả và kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam quý I/2026 vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực và đạt kết quả khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7,07% của quý I/2025, cho thấy nền kinh tế tiếp tục phục hồi vững chắc và duy trì động lực tăng trưởng ngay từ đầu năm. 
Hoạt động doanh nghiệp có nhiều tín hiệu tích cực khi số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt khoảng 96 nghìn doanh nghiệp, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường vẫn ở mức cao, bình quân khoảng 30,6 nghìn doanh nghiệp/tháng, cho thấy môi trường kinh doanh vẫn còn những khó khăn nhất định.
Khu vực dịch vụ tiếp tục khởi sắc và đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn nền kinh tế trong quý I/2026, chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ và du lịch tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán, cùng với sự gia tăng của khách quốc tế đến Việt Nam.
Hoạt động du lịch tiếp tục là điểm sáng khi khách quốc tế đến Việt Nam trong quý I/2026 ước đạt khoảng 6,76 triệu lượt người, tăng khoảng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, góp phần thúc đẩy các ngành dịch vụ liên quan như lưu trú, ăn uống và vận tải. 
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tiếp tục duy trì xu hướng tăng, trong khi dòng vốn đầu tư nước ngoài ghi nhận kết quả tích cực cả về đăng ký và thực hiện. 
Trong quý I/2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt khoảng 744,7 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Về cơ cấu, khu vực Nhà nước tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, ước đạt 207,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,8% tổng vốn đầu tư và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 402,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 54,1%, tăng 9,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 135,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1% và tăng 11,8%.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước đạt khoảng 5,41 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 03 tháng đầu năm trong 5 năm qua.
Hoạt động thương mại quốc tế trong quý I/2026 tiếp tục sôi động. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,50 tỷ USD, tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,64 tỷ USD.
Về xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I/2026 đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3%,chiếm 80,1%. Trong quý I/2026 có 20 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. 
Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I/2026 đạt 126,57 tỷ USD, tăng 27,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 35,2 tỷ USD, giảm 4,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,37 tỷ USD, tăng 45,3%. Trong quý I/2026 có 22 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm 82,8% tổng kim ngạch nhập khẩu. 
Về thị trường, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39,0 tỷ USD, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 50,1 tỷ USD. Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 33,9 tỷ USD (tăng 24,2%), đồng thời nhập siêu lớn từ Trung Quốc (33,3 tỷ USD) tăng 34,4%. 
Giá cả quý I/2026 tăng hơn do tác động nhóm xăng dầu tăng trong tháng 3. Tính chung quý I/2026, CPI tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,63%. 
Thu, chi ngân sách nhà nước quý I/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng. Thu ngân sách nhà nước quý I/2026 đạt 829,4 nghìn tỷ đồng, bằng 32,8% dự toán năm và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng chi ngân sách nhà nước quý I/2026 đạt 530,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,8% dự toán năm và tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. 
Về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm quý II và thời gian tới, Nghị quyết số 89/NQ-CP, ngày 05/4/2026 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2026 và Hội nghị Chính phủ với địa phương nêu rõ: Trước tình hình có cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bám sát và tập trung thực hiện 4 nguyên tắc cốt lõi về tăng trưởng kinh tế mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt hơn nữa, rà soát kỹ lưỡng các nhiệm vụ được giao, khẩn trương hoàn thành các nhiệm vụ đã quá hạn, xử lý khó khăn, vướng mắc nội tại và ứng phó kịp thời, hiệu quả với những vấn đề phát sinh, tập trung chỉ đạo, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ của quý II năm 2026; trong đó chú trọng một số nội dung quan trọng sau:
Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; khẩn trương hoàn thiện các đề án, văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách. 
Hai là, kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế gắn với thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững; điều hành linh hoạt, hiệu quả các chính sách vĩ mô; tăng cường kỷ luật tài chính - ngân sách, tiết kiệm chi, chống thất thu, tạo nguồn lực cho phát triển. 
Ba là, đẩy mạnh huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, ưu tiên các dự án trọng điểm quốc gia, công trình hạ tầng chiến lược; đồng thời hoàn thiện hệ thống quy hoạch bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tạo nền tảng phát triển lâu dài. 
Bốn là, thúc đẩy các động lực tăng trưởng, phát triển mạnh các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ; tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, mở rộng thị trường xuất khẩu; đồng thời phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. 
Năm là, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài; đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm; phát huy hiệu quả hoạt động của các ban chỉ đạo, tổ công tác, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra. 
Sáu là, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, an ninh kinh tế; chủ động ứng phó với các biến động quốc tế; phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển bền vững. 
Bảy là, thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân; đồng thời củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, buôn lậu, gian lận thương mại, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. 
Tám là, đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm thời gian và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm đội ngũ cán bộ, công chức. 
6. Nhiệm vụ của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại
Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2026 về kết quả kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị ở Trung ương năm 2025. Kết luận nêu rõ: Để tiếp tục triển khai nghiêm túc, hiệu quả, thực chất, thống nhất Quy định số 366-QĐ/TW, ngày 30/8/2025 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 43-HD/BTCTW, ngày 31/10/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo một số nội dung sau:
Các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, ban đảng, cơ quan, đơn vị ở Trung ương, trước hết là người đứng đầu, cần nêu cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình phải thực chất, dân chủ, bảo đảm tính chiến đấu; làm rõ những hạn chế, khuyết điểm của tập thể, gắn với trách nhiệm cá nhân; thông qua kiểm điểm để chủ động phát hiện từ sớm, từ xa và đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Công tác đánh giá, xếp loại chất lượng các tập thể, cá nhân phải chuyển từ đánh giá cảm tính sang đánh giá thực chất, dựa trên dữ liệu tiêu chí, kết quả, sản phẩm công việc được kiểm chứng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; bảo đảm thực sự là "thước đo" để bố trí, sử dụng cán bộ theo phân cấp.
Yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa tốt việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng năm 2025 phải nghiêm túc chấn chỉnh, rút kinh nghiệm khắc phục triệt để tình trạng nể nang, né tránh, hình thức. Đối với các đồng chí chưa kiểm điểm mà vẫn đánh giá, xếp loại thì phải tiến hành kiểm điểm bổ sung. Thực hiện việc rà soát, đánh giá, xếp loại lại đối với các tập thể, cá nhân "Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ" nhưng không bảo đảm tiêu chí hoặc vượt quá tỷ lệ quy định; đồng thời, thực hiện nghiêm quy định về mức xếp loại của người đứng đầu không được cao hơn mức xếp loại của tập thể lãnh đạo, quản lý, tổ chức, cơ quan, đơn vị. Bổ sung, hoàn thiện các hồ sơ kiểm điểm tập thể, cá nhân theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. Hoàn thành trước ngày 1/4/2026.
Ngay sau kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng phải xây dựng kế hoạch, xác định rõ các giải pháp khắc phục triệt để hạn chế, yếu kém, khuyết điểm của tập thể, cá nhân. Phân công theo dõi, tổ chức kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, hạn chế. Hoàn thành trước ngày 15/4/2026.
Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương thường xuyên theo dõi, nắm tình hình, hướng dẫn, đôn đốc và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Ủy ban Kiểm tra Trung ương bổ sung nội dung trên vào chương trình các đoàn kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị năm 2026.
Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chỉ đạo cụ thể hóa nội dung kiểm điểm, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong phạm vi tổ chức, cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, bảo đảm phù hợp với đặc điểm ngành, lĩnh vực, chức năng, nhiệm vụ theo phân cấp và trên cơ sở kế hoạch, chương trình công tác, nhiệm vụ được giao và làm căn cứ để đánh giá, xếp loại theo quý, cả năm và nhiệm kỳ.
Giao Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu hướng dẫn việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp theo Kết luận số 198-KL/TW, ngày 8/10/2025 của Bộ Chính trị (tiêu chí, sử dụng kết quả xếp loại hằng quý để xếp loại năm, số quý hoàn thành xuất sắc để được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm; quy định về tỷ lệ xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hằng quý…); hằng năm ban hành văn bản hướng dẫn việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu thực tiễn; tổng hợp, thẩm định, báo cáo Bộ Chính trị kết quả kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; ban hành Báo cáo về kết quả kiểm điểm, đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên, tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. 
7. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản 
Ngày 17/3/2026, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới, trong đó nêu rõ mục tiêu đến năm 2030, xây dựng hệ thống xuất bản tinh gọn, mạnh, chất lượng và hiện đại hóa; đầu tư, xây dựng và hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, đa nền tảng, đa sản phẩm. Chuyển đổi số sâu rộng, phát triển hệ thống xuất bản đa phương tiện, 100% nhà xuất bản tham gia xuất bản điện tử và ứng dụng chuyển đổi số trong quy trình xuất bản nhằm thúc đẩy mạnh mẽ văn hóa đọc hướng đến xây dựng phong trào toàn dân đọc sách. Phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống xuất bản, truyền thông phát triển mạnh, đa dạng, hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu đọc, học, giải trí và hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân trong kỷ nguyên mới. Xuất bản trở thành ngành kinh tế số có năng lực vươn ra toàn cầu góp phần nâng cao vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Ban Bí thư đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cần triển khai đồng bộ, quyết liệt trong thời gian tới như sau: 
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của xuất bản trong xây dựng Đảng, phát triển đất nước và đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân.
Hai là, hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng và pháp luật về xuất bản; tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi thúc đẩy ngành xuất bản phát triển. Đẩy mạnh phát triển không gian số, kinh tế số xuất bản; xây dựng cơ chế tài chính hỗ trợ; hoàn thiện pháp luật về bảo vệ bản quyền, nhất là trong môi trường số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo; nâng cao nhận thức xã hội về quyền tác giả.
Ba là, xây dựng chiến lược phát triển xuất bản theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, gắn với công nghiệp văn hóa; tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật, phát triển xuất bản điện tử, mô hình xuất bản mới và dữ liệu số; đẩy mạnh hợp tác công tư, bảo đảm vai trò định hướng tư tưởng, văn hóa.
Bốn là, nâng cao chất lượng nội dung xuất bản; phát triển các đề tài có giá trị tư tưởng, khoa học, thẩm mỹ; đẩy mạnh cơ chế đặt hàng tác phẩm có giá trị; hoàn thiện chính sách đãi ngộ, bảo vệ người làm xuất bản; đổi mới quản trị, nâng cao năng lực thích ứng thị trường và hội nhập quốc tế.
Năm là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động xuất bản; kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc, phát tán nội dung độc hại, chống phá Đảng và Nhà nước.
Sáu là, phát triển văn hóa đọc trong xã hội; nâng cao giá trị sách, chất lượng Giải thưởng Sách Quốc gia; xây dựng không gian văn hóa đọc hiện đại; hình thành thói quen, kỹ năng đọc, góp phần xây dựng xã hội học tập.
Bảy là, phát triển hạ tầng số và hệ sinh thái xuất bản số; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đa dạng hóa sản phẩm; cải cách thủ tục hành chính, liên thông dữ liệu; hiện đại hóa hoạt động phát hành, xây dựng thư viện số.
Tám là, mở rộng hợp tác quốc tế; thúc đẩy trao đổi bản quyền, xuất bản song ngữ; đưa sách Việt Nam ra thế giới, tiếp nhận tinh hoa tri thức nhân loại; tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; tổ chức, tham gia các hội chợ sách quốc tế, quảng bá văn hóa Việt Nam.
Chín là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng đội ngũ làm xuất bản có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực quản trị; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng toàn diện về nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp.
8. Một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam
Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam được phê duyệt bởi Quyết định số 530/QĐ-TTg, ngày 31/3/2026 đặt ra các nhiệm vụ và giải pháp như: Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách; xây dựng hệ sinh thái, khai thác, cập nhật mạng lưới kết nối chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài; tăng cường truyền thông, quảng bá hình ảnh Việt Nam là điểm đến học thuật, nghiên cứu có uy tín; xây dựng môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, hiện đại; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo; tăng cường giám sát, đánh giá, sơ kết và nhân rộng.
Về giải pháp hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, Chương trình nhấn mạnh việc xây dựng, ban hành quy định tiêu chuẩn, điều kiện đối với chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và làm việc tại Việt Nam, trong đó ưu tiên các ngành khoa học, công nghệ chiến lược, then chốt và các ngành kinh tế trọng điểm; xây dựng cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đặc thù, bảo đảm minh bạch, đồng bộ và phù hợp thông lệ quốc tế. 
Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng, thuế thu nhập cá nhân; quy định về công nhận tương đương các chức danh giáo sư, phó giáo sư và giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp được phong tặng ở nước ngoài; đảm bảo điều kiện làm việc, nghiên cứu và môi trường học thuật thuận lợi. Ngoài ra, cơ chế, chính sách quy định về tài chính và tự chủ của các cơ sở giáo dục được điều chỉnh theo hướng tăng quyền phân cấp, cho phép chủ động phân bổ kinh phí, chi trả thu nhập theo hiệu quả công việc; đồng thời xây dựng cơ chế thưởng gắn với kết quả đầu ra. Cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình cấp giấy phép lao động, thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, cấp thị thực cư trú và các thủ tục khác liên quan. Xây dựng chính sách tạo điều kiện thuận lợi về môi trường sống, nhà ở và các dịch vụ công thiết yếu nhằm giúp chuyên gia, nhà khoa học và gia đình được ổn định cuộc sống tại Việt Nam.
Khai thác, cập nhật, chia sẻ cơ sở dữ liệu về chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài trên cơ sở nguồn lực hiện có tại các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức liên quan. Xây dựng, khai thác và kết nối mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học thông qua các mạng lưới trí thức, hiệp hội, doanh nghiệp; định kỳ hàng năm tổ chức các diễn đàn, hội thảo kết nối và vinh danh chuyên gia tiêu biểu nhằm tạo động lực thu hút người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc.
Thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ; chú trọng phát triển mạng lưới, tạo động lực cho chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài cống hiến cho hệ thống giáo dục Việt Nam; nghiên cứu, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài về nước thực tập, giao lưu, kết nối với các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam.
Tạo dựng hệ sinh thái, mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, năng lượng nguyên tử, khoa học công nghệ chiến lược, mũi nhọn, các ngành kinh tế trọng điểm; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và tạo nguồn chuyên gia, nhà khoa học có khả năng đảm nhiệm vị trí dẫn dắt, chủ trì các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ.
9. Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia
Nhằm mục tiêu nâng cao năng lực tổng thể, xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh mạng tinh nhuệ, hiện đại, nhằm chủ động phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với mọi nguy cơ, thách thức trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng.
Đến năm 2030, Việt Nam nằm trong nhóm 15 quốc gia dẫn đầu thế giới theo Chỉ số an ninh mạng toàn cầu (ITU-GCI). Hình thành và phát triển Trung tâm Đào tạo khu vực về phòng, chống tội phạm mạng và an ninh mạng tại Việt Nam để nâng cao vị thế và năng lực dẫn dắt trong khu vực. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam có ít nhất 10.000 chuyên gia an ninh mạng chuyên sâu, trong đó 20% đạt trình độ quốc tế. Ban hành chuẩn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu, chương trình, nội dung tập huấn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng; quản lý, hướng dẫn và tổ chức triển khai hoạt động chứng nhận tập huấn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng.
100% lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, lực lượng bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, cán bộ trực tiếp quản trị vận hành hệ thống thông tin cấp độ 3, cấp độ 4, cấp độ 5, trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước có chứng nhận đáp ứng yêu cầu kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng do cơ quan có thẩm quyền cấp; được cập nhật kiến thức an ninh mạng ít nhất 1 lần/năm.
90% người sử dụng Internet có cơ hội tiếp cận hoạt động nâng cao nhận thức, kỹ năng và công cụ bảo đảm an ninh mạng. Nghiên cứu, phát triển, từng bước làm chủ công nghệ chiến lược về an ninh mạng. Phát triển hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng do Việt Nam làm chủ công nghệ. Nhà nước lựa chọn tối thiểu 2 tổ chức, doanh nghiệp làm chủ công nghệ cho mỗi loại sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng trọng điểm, nền tảng để tập trung nguồn lực thúc đẩy. Thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin, cảnh báo, điều phối ứng phó sự cố giữa các lực lượng bảo vệ an ninh mạng và các doanh nghiệp an ninh mạng để nâng cao năng lực phòng thủ quốc gia.
70% các ban, bộ, ngành, địa phương và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia sử dụng sản phẩm công nghệ chiến lược “Make in Vietnam”; 100% các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phải được kiểm định, đánh giá trước khi đưa vào sử dụng, áp dụng trước hết đối với hạ tầng thông tin quan trọng quốc gia, hệ thống thông tin của các cơ quan trong hệ thống chính trị có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội và đời sống nhân dân. 100% các hệ thống thông tin sử dụng vốn ngân sách nhà nước được triển khai đầy đủ các phương án bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ.
Tham gia tích cực và từng bước đóng vai trò dẫn dắt hoạt động của các tổ chức đa phương uy tín về an ninh mạng, thiết lập và mở rộng mạng lưới đối tác chiến lược về an ninh mạng với tối thiểu 20 quốc gia hàng đầu về an ninh mạng. Thiết lập đường dây nóng 24/7 tham gia mạng lưới ứng cứu xử lý sự cố với các quốc gia trên thế giới. Thu hút ít nhất 1 tập đoàn công nghệ về an ninh mạng có quy mô toàn cầu đặt trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam. Mỗi năm cử ít nhất 50 cán bộ lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia tham gia huấn luyện tại các cơ sở đào tạo/huấn luyện an ninh mạng hàng đầu thế giới. Hình thành và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách về ngoại giao an ninh mạng.
Tầm nhìn đến 2045, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về an ninh mạng, có năng lực mạnh trong phòng thủ, tấn công trấn áp tội phạm mạng và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền số, bảo vệ cho mọi hoạt động của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trên không gian mạng. Công nghiệp an ninh mạng trở thành ngành kinh tế-kỹ thuật mũi nhọn, có 03 doanh nghiệp an ninh mạng Việt Nam nằm trong nhóm 50 doanh nghiệp dẫn đầu toàn cầu về cung cấp giải pháp an ninh mạng, xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, công nghệ ra thị trường thế giới.
Đề án “Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia” được phê duyệt bởi Quyết định số 515/QĐ-TTg ngày 30/3/2026 đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp triển khai thực hiện, gồm: hoàn thiện thể chế, xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù; tổ chức lực lượng an ninh mạng; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao; giám sát, chia sẻ thông tin và đánh giá năng lực an ninh mạng quốc gia; nghiên cứu phát triển, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, làm chủ công nghệ lõi trong lĩnh vực an ninh mạng; nâng cao uy tín quốc gia và tăng cường hợp tác quốc tế; bảo đảm nguồn lực triển khai Đề án.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây