1. Về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Ngày 23/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 01-CT/TW về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; trong đó, yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:
Xác định việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026 và cả nhiệm kỳ, phải được thực hiện nghiêm túc, bài bản, khoa học; đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả Nghị quyết, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận của Nhân dân, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhằm góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng bao gồm: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011-2025) và đề xuất, định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, thực hiện thường xuyên, liên tục trong cả nhiệm kỳ; kịp thời cập nhật và bổ sung Chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ, chi bộ ở từng cấp gắn với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị, thể hiện sự quyết tâm, đổi mới sáng tạo, bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả. Kết quả thực hiện Chương trình hành động là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, đánh giá tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, người đứng đầu hằng năm và cả nhiệm kỳ. Thời gian hoàn thành Chương trình hành động trong quý I/2026.
Tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng phải được tiến hành ngay, đồng bộ, thường xuyên, phong phú, sinh động, kết hợp hài hoà giữa phương thức truyền thống với phát huy hiệu quả các ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số. Kết hợp tự nghiên cứu với nghe phổ biến, đổi mới mạnh mẽ tư duy từ "học tập, quán triệt" sang "hiểu sâu - hành động đúng - làm đến cùng" trong từng bước triển khai.
Nội dung tuyên truyền tập trung về thành công của Đại hội, những nội dung cốt lõi, đổi mới của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức trong giai đoạn tới; định hướng dư luận xã hội gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; phản ánh kịp thời, đầy đủ, toàn diện việc triển khai thực hiện Nghị quyết tới các tầng lớp nhân dân trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài, góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chỉ thị yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chỉ đạo tổ chức các hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho từng đối tượng cụ thể, từ tỉnh ủy, thành ủy tới cơ sở; phát động sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Đối với những cán bộ, đảng viên chưa được tham gia học tập tại Hội nghị do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức, đồng chí bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trực tiếp quán triệt. Thời gian hoàn thành các hội nghị trong quý I/2026.
2. Một số nội dung trọng tâm cần tập trung tuyên truyền trước, trong và sau bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 sẽ diễn ra vào ngày 15/3/2026. Đây là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, được tổ chức trong bối cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa thành công tốt đẹp, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội trước, trong và sau bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự là ngày hội của toàn dân, cần tập trung tuyên truyền một số nội dung trọng tâm sau:
2.1. Trước bầu cử
- Tập trung tuyên truyền sâu rộng mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; làm rõ bối cảnh, thời điểm tổ chức bầu cử gắn với thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, việc tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước sau 40 năm đổi mới.
- Tuyên truyền, quán triệt đầy đủ, sâu sắc chủ trương, quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bầu cử; các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Hội đồng Bầu cử Quốc gia và các cơ quan có thẩm quyền; nhấn mạnh trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử, nhất là công tác nhân sự.
- Tuyên truyền về tiêu chuẩn, cơ cấu, số lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; làm rõ yêu cầu lựa chọn, giới thiệu những người tiêu biểu, đủ tiêu chuẩn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, năng lực và uy tín; bảo đảm hài hòa giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, giữa kế thừa, ổn định và đổi mới, phát triển; kiên quyết không để những người không đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia ứng cử.
2.2. Trong thời gian bầu cử
- Đẩy mạnh tuyên truyền quá trình tổ chức, triển khai cuộc bầu cử; phản ánh kịp thời, đầy đủ các bước, các khâu theo đúng quy định của pháp luật; biểu dương những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
- Tập trung tuyên truyền không khí dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật của Ngày bầu cử; ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác của cử tri trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; khẳng định cuộc bầu cử thực sự là Ngày hội của toàn dân.
- Tuyên truyền vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tham gia tổ chức bầu cử; đồng thời chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, lợi dụng bầu cử để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2.3. Sau bầu cử
- Tập trung tuyên truyền kết quả và ý nghĩa thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; khẳng định tinh thần đoàn kết, thống nhất, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong tổ chức và tham gia bầu cử.
- Tiếp tục tuyên truyền về vị trí, vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; những thành tựu, đóng góp của Quốc hội trong suốt 80 năm hình thành và phát triển; các hoạt động của Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp, tạo niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân vào bộ máy chính quyền và đội ngũ đại biểu mới được bầu.
- Tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả các thông tin sai trái, thù địch liên quan đến cuộc bầu cử; góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.
3. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực năm 2026
Năm 2026 là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực yêu cầu công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTNLPTC) và hoạt động của ban chỉ đạo hai cấp cần bám sát và triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về PCTNLPTC theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tinh thần chung là “phải quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn” như chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTNLPTC vừa qua. Trong đó, cần tập trung làm tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Quán triệt, triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp về PCTNLPTC theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTNLPTC nhiệm kỳ XIII. Trọng tâm là hoàn thành rà soát, khắc phục ngay những sơ hở, bất cập, chồng chéo trong các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tập trung sửa đổi các dự án luật có liên quan đến PCTNLPTC; các quy định về tiêu chuẩn, định mức kinh tế, kỹ thuật không còn phù hợp với thực tiễn. Tổ chức thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và phòng, chống lãng phí; hoàn thiện Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả công tác PCTNLPTC áp dụng thống nhất trong cả nước. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết của Trung ương về PCTNLPTC trong giai đoạn mới.
Tập trung kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; không để tái diễn sai phạm cũ; không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thực hiện các dự án, công trình trọng điểm quốc gia và cấp địa phương. Phấn đấu trong năm 2026, kết thúc điều tra, xử lý 21 vụ án, 5 vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Khẩn trương hoàn thành việc rà soát, xử lý dứt điểm các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ thất thoát, lãng phí. Nhất là 10 dự án trọng điểm thường trực Ban Chỉ đạo giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xử lý. Tập trung điều tra, xử lý nghiêm một số vụ án, vụ việc điển hình về thất thoát, lãng phí để răn đe, cảnh báo, phòng ngừa vi phạm.
Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện đồng bộ các biện pháp để thu hồi tối đa tài sản ngay từ giai đoạn kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và trong giai đoạn thi hành án; khuyến khích người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc truy bắt các đối tượng bỏ trốn và thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài. Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiên trì xây dựng văn hóa liêm chính, công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số để PCTNLPTC. Tập trung xây dựng, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu bộ, ngành để phục vụ kiểm soát tài sản, thu nhập, thanh tra, kiểm tra, hướng đến thực hiện PCTNLPTC theo phương thức “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”.
Tăng cường kiểm soát quyền lực, PCTNLPTC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, sợ sai không dám làm; xử lý dứt điểm “tham nhũng vặt”. Tăng cường giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn; giám sát, kiểm soát quyền lực các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác PCTNLPTC trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Xử lý nghiêm minh, công khai các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực trong giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả giám sát, phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên, báo chí và nhân dân trong PCTNLPTC; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, hiệu quả phối hợp của các cơ quan chức năng PCTNLPTC.
4. Quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy trường chính trị tỉnh, thành phố
Ngày 05/01/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 393-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố. Quy định nêu rõ: Trường chính trị tỉnh, thành phố là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện và thường xuyên của ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy. Trường chính trị tỉnh, thành phố có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị xã, phường, đặc khu; cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc ở các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương và theo phân cấp nhiệm vụ đào tạo về: Lý luận chính trị; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; quản lý nhà nước; kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; kiến thức về một số lĩnh vực khác; tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương.
Trường chính trị tỉnh, thành phố có nhiệm vụ: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị của cấp ủy, chính quyền xã, phường, đặc khu, các đảng ủy trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh; cán bộ lãnh đạo, quản lý của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp ở xã, phường, đặc khu; trưởng, phó phòng của ban, sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp ở cấp tỉnh và tương đương; cán bộ được quy hoạch vào các chức danh trên; cán bộ, công chức, viên chức ở xã, phường, đặc khu và một số đối tượng khác theo quy định về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức về một số lĩnh vực khác.
Đào tạo lý luận chính trị trình độ trung cấp theo quy định của Trung ương. Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương theo quy định. Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu vị trí việc làm cho các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý theo phân cấp; cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ của các tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, đặc khu; bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đại biểu hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu. Bồi dưỡng các chương trình khác do cấp có thẩm quyền giao.
Phối hợp với ban tuyên giáo và dân vận tỉnh ủy, thành ủy và các cơ quan có liên quan hướng dẫn việc thực hiện chương trình, nội dung bồi dưỡng lý luận chính trị; xây dựng quy chế bồi dưỡng cán bộ của trung tâm chính trị xã, phường, đặc khu. Chủ trì, phối hợp với ban tuyên giáo và dân vận tỉnh ủy, thành ủy và các cơ quan có liên quan hướng dẫn phương pháp giảng dạy cho đội ngũ giảng viên của trung tâm chính trị xã, phường, đặc khu. Tham gia tổng kết thực tiễn ở địa phương, cơ sở, tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy, học tập, góp phần cung cấp luận cứ khoa học trong việc hoạch định, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của đảng bộ và chính quyền địa phương. Tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Hiệu trưởng trường chính trị tỉnh, thành phố ký và cấp các loại văn bằng, chứng chỉ của các chương trình thuộc chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng được giao; văn bằng được sử dụng theo quy định hiện hành. Về cơ cấu tổ chức, lãnh đạo trường chính trị tỉnh, thành phố gồm: Hiệu trưởng và không quá 2 phó hiệu trưởng; Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội có không quá 3 phó hiệu trưởng. Đối với các trường chính trị tỉnh, thành phố thuộc diện hợp nhất, sáp nhập thực hiện theo kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Trường chính trị tỉnh, thành phố được thành lập tối đa 5 khoa, phòng; định hướng như sau: Khoa Lý luận cơ sở; Khoa Xây dựng Đảng; Khoa Nhà nước và pháp luật; Phòng Quản lý đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học; Phòng Tổ chức, hành chính, thông tin, tư liệu. Việc thành lập các khoa, phòng chuyên môn của trường chính trị tỉnh, thành phố do ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy xem xét, quyết định trên cơ sở: Tổng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao; đề án vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền phê duyệt; yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của địa phương. Tối thiểu có 7 người mới lập một đầu mối (khoa, phòng và tương đương); khoa, phòng có dưới 10 người được bố trí cấp trưởng và 1 cấp phó; từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 cấp phó.
Biên chế của trường chính trị tỉnh, thành phố do ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy xem xét, quyết định trên cơ sở tổng biên chế được cấp có thẩm quyền giao; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; cơ cấu cán bộ, viên chức; phù hợp với tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm đã được phê duyệt; bảo đảm thực hiện việc tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Cơ cấu cán bộ giảng dạy và nghiên cứu tối thiểu là 75% so với tổng số cán bộ, viên chức. Trong quá trình sắp xếp bộ máy theo chủ trương, kết luận, quy định của Trung ương, số lượng biên chế của trường chính trị tỉnh, thành phố được bố trí không vượt quá số lượng biên chế hiện có của các trường chính trị trước sáp nhập. Để phục vụ công tác giảng dạy, trường chính trị tỉnh, thành phố được thực hiện chế độ giảng viên kiêm nhiệm, giảng viên thỉnh giảng.
5. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới
Ngày 10/01/2026, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới; trong đó yêu cầu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:
Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc tính cấp bách, lâu dài và tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; coi đây là một bộ phận quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Công tác tuyên truyền, giáo dục tập trung trang bị cho công nhân những nội dung cơ bản về chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, qua đó nâng cao bản lĩnh chính trị, giác ngộ giai cấp, ý thức chấp hành pháp luật, tác phong công nghiệp và văn hoá công nhân; đồng thời củng cố niềm tin của công nhân vào sự lãnh đạo của Đảng, bồi dưỡng lòng yêu nước, trách nhiệm công dân, nâng cao khả năng nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, các hành vi lợi dụng, kích động, gây mất ổn định quan hệ lao động và trật tự xã hội. Giáo dục pháp luật tập trung vào các quy định liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công nhân; nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật, ý thức tự bảo vệ quyền và lợi ích; khả năng tham gia đối thoại, thương lượng tập thể và giám sát việc thực thi pháp luật tại doanh nghiệp.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về lao động, công đoàn và các chính sách liên quan đến công nhân nhằm bảo đảm quyền được học tập, tiếp cận thông tin chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật gắn với nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công nhân như: Tiền lương, thời giờ làm việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn, vệ sinh lao động và đối thoại tại nơi làm việc. Tăng cường các giải pháp tập hợp, đoàn kết công nhân; triển khai đồng bộ các chính sách chăm lo, bảo đảm quyền lợi chính đáng, cải thiện điều kiện làm việc, thiết chế văn hoá và phúc lợi xã hội, tạo nền tảng để công nhân hưởng ứng tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục. Tổ chức công đoàn các cấp chủ động phối hợp, đối thoại, thương lượng với người sử dụng lao động để bố trí thời gian phù hợp, địa điểm thuận lợi và hỗ trợ các nguồn lực cần thiết cho công tác tuyên truyền, giáo dục. Kịp thời tổng kết, đánh giá, biểu dương và nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả.
Phát huy vai trò, sự phối hợp của các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đại diện người sử dụng lao động, người sử dụng lao động, cơ quan báo chí trong công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; trong đó, tổ chức công đoàn giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện tại cơ sở. Cấp ủy các cấp, nhất là cấp ủy tại doanh nghiệp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng nội dung, tạo điều kiện về tổ chức và nguồn lực cho tổ chức công đoàn triển khai hiệu quả. Nâng cao trách nhiệm của mỗi đảng viên, đoàn viên công đoàn với vai trò là tuyên truyền viên trong công tác tuyên truyền, vận động công nhân; chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân để kịp thời định hướng, tuyên truyền, giáo dục. Người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức công đoàn, tạo điều kiện về thời gian, địa điểm, nguồn lực cần thiết để công nhân tham gia các hoạt động học tập, tuyên truyền, giáo dục; đồng thời quan tâm, thúc đẩy xây dựng văn hoá doanh nghiệp, tạo môi trường làm việc văn minh.
Coi giáo dục chính trị, tư tưởng là cơ sở; giáo dục pháp luật, văn hoá ứng xử và tác phong công nghiệp là cơ bản; chú trọng giáo dục nghĩa vụ công dân, trách nhiệm với đồng nghiệp, với tổ chức công đoàn, doanh nghiệp và xã hội; khơi dậy tinh thần tự giác, kỷ luật lao động, gắn lợi ích của công nhân với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và đất nước. Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng, cập nhật thường xuyên nội dung các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục sáng tạo, có tính tương tác cao, lan toả rộng, ngắn gọn, trực quan, dễ tiếp cận, gắn với diễn biến thực tiễn quan hệ lao động và yêu cầu nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ. Kết hợp linh hoạt truyền thống và hiện đại, đa dạng hoá phương thức, hình thức tuyên truyền, giáo dục bảo đảm tính thiết thực, thuyết phục và phù hợp với nhận thức, điều kiện làm việc, điều kiện sống, nhu cầu, thói quen của từng đối tượng công nhân.
Quan tâm củng cố, kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn và có cơ chế, chính sách đãi ngộ, động viên, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên làm công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ cộng tác viên, công nhân nòng cốt tại cơ sở, nhất là các khu công nghiệp, khu chế xuất, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước trở thành lực lượng trực tiếp tuyên truyền, vận động và kịp thời nắm bắt tình hình trong công nhân ngay tại cơ sở.
6. Tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị
Ngày 31/12/2025, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 57-CT/TW về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị; trong đó có một số giải pháp trọng tâm sau:
Quán triệt sâu sắc quan điểm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, cấp bách; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đóng vai trò chủ chốt. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng.
Quán triệt phương châm "Tự chủ, tự lực, tự cường" trong xây dựng tiềm lực an ninh mạng. Tập trung phát triển, khai thác, sử dụng hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng Việt Nam, ưu tiên làm chủ công nghệ lõi, giải pháp bảo mật tiên tiến, ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo, công nghệ mới vào lĩnh vực an ninh mạng, coi đây là những nhiệm vụ chiến lược để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục kiến thức, kỹ năng an ninh mạng; đưa nội dung này vào chương trình của hệ thống giáo dục quốc dân, chuyên đề trong Phong trào "Bình dân học vụ số" để xây dựng "thế hệ công dân số" văn minh, tuân thủ pháp luật. Triển khai đánh giá tín nhiệm mạng, phát triển cơ chế liên kết và hợp tác nhằm xây dựng một không gian mạng an toàn, tin cậy, thúc đẩy các giá trị nhân văn và nâng cao ý thức trách nhiệm bảo đảm an ninh không gian mạng đến mọi người dùng; phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh mạng; phát huy trách nhiệm xã hội của cơ quan báo chí và người có uy tín trong việc định hướng dư luận, lan toả thông tin tích cực và đấu tranh với các thông tin xấu độc. Tập trung đào tạo, nâng cao năng lực, kỹ năng của lực lượng chuyên trách về an ninh mạng.
Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, thống nhất, đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về an ninh mạng, bảo mật thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu quốc gia, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Xây dựng chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Thống nhất đầu mối, phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước bảo đảm hiệu lực, hiệu quả.
Quy hoạch và phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu quốc gia bảo đảm hiện đại, đồng bộ, an toàn. Thực hiện nghiêm quy định pháp luật yêu cầu hồ sơ thiết kế hệ thống thông tin, dự án chuyển đổi số phải có cấu phần an ninh mạng được thẩm định, phê duyệt trước khi đầu tư xây dựng. Xây dựng Khung quản trị rủi ro an ninh mạng quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế; chuyển đổi tư duy từ quản lý kỹ thuật thuần tuý sang quản trị rủi ro toàn diện nhằm tăng tính chủ động phân bổ nguồn lực và giảm thiểu tổn thất. Xây dựng và áp dụng Bộ chỉ số đánh giá năng lực bảo đảm an ninh mạng để xếp hạng các bộ, ngành, địa phương, tổ chức. Hoàn thiện cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp ứng cứu sự cố giữa các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế.
Hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý chặt chẽ hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng (bao gồm cả dịch vụ xuyên biên giới). Quy định rõ trách nhiệm của các doanh nghiệp viễn thông, Internet, tài chính, ngân hàng trong việc bảo đảm an ninh hệ thống và phối hợp với cơ quan chức năng (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng); thiết lập cơ chế kết nối kỹ thuật, cung cấp dữ liệu, chứng cứ điện tử nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống" để phục vụ công tác điều tra, xử lý tội phạm và bảo vệ chủ quyền quốc gia; đơn giản hoá thủ tục hành chính trong các tình huống khẩn cấp về an ninh mạng. Tập trung đầu tư, hiện đại hoá hạ tầng, công nghệ và các giải pháp kỹ thuật bảo đảm an ninh mạng.
Xây dựng kiến trúc bảo vệ an ninh mạng quốc gia đồng bộ, thống nhất, đa lớp hỗ trợ bảo vệ cho toàn bộ hạ tầng mạng Internet Việt Nam và hệ thống thông tin của bộ, cơ quan, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp. Mở rộng kết nối giám sát an ninh mạng đến toàn bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin, hệ thống dùng chung của toàn hệ thống chính trị. Tăng cường bảo đảm an ninh kết nối, duy trì sự ổn định, thông suốt và an toàn của các luồng dữ liệu quốc gia, kết nối quốc tế trong mọi tình huống, kể cả khi xảy ra thảm hoạ, chiến tranh.
Xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng vững chắc. Phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân; huy động sức mạnh tổng hợp của các doanh nghiệp công nghệ, viễn thông và các tầng lớp nhân dân. Đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao. Tăng cường liên kết giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong đào tạo, huấn luyện thực chiến. Xây dựng mạng lưới chuyên gia an ninh mạng trong và ngoài nước, sẵn sàng huy động nguồn lực xã hội tham gia ứng cứu sự cố, tình huống nguy hiểm về an ninh mạng. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, đãi ngộ chuyên gia giỏi, nhân tài tham gia phục vụ công tác an ninh mạng quốc gia.
Tăng cường và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương, đa phương trên lĩnh vực an ninh mạng, trọng tâm là chia sẻ thông tin tình báo, cảnh báo sớm; phối hợp quốc tế phòng, chống và ứng phó sự cố tấn công mạng; điều tra, truy tố tội phạm mạng xuyên quốc gia; bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong quá trình hợp tác, tiếp thu kinh nghiệm, công nghệ và chuẩn mực quốc tế về an ninh mạng. Chủ động tham gia xây dựng các khuôn khổ pháp lý, chuẩn mực chung của quốc tế; sớm nghiên cứu, ban hành Tuyên bố quốc gia của Việt Nam về việc áp dụng luật pháp quốc tế trên không gian mạng để khẳng định chủ quyền và trách nhiệm quốc gia.
7. Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành bởi Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 19/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Nội dung của Kế hoạch, gồm:
Tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết: Ở Trung ương, cơ quan chủ trì là Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan phối hợp là các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Năm 2026. Sản phẩm là Hội nghị, tọa đàm, tài liệu phổ biến, tài liệu truyền thông. Ở địa phương, cơ quan chủ trì: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cơ quan phối hợp là các ban, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Năm 2026. Sản phẩm là Hội nghị, tọa đàm, tài liệu phổ biến, tài liệu truyền thông, các bài đăng trên báo, tạp chí, phóng sự.
Xây dựng văn bản quy định chi tiết Nghị quyết: Cơ quan chủ trì là Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ quan phối hợp là các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Danh mục văn bản cần ban hành để quy định chi tiết Nghị quyết và thời gian hoàn thành thực hiện theo Quyết định số 2835/QĐ-TTg ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10. Sản phẩm là Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với Nghị quyết: Đối với văn bản thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan chủ trì là Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ quan phối hợp: Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Tiến hành rà soát các văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ theo lộ trình, chậm nhất ngày 20/6/2026. Đối với văn bản thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chủ trì là các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp. Cơ quan phối hợp: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp gửi Danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới về Bộ Giáo dục và Đào tạo trong tháng 02/2026 để theo dõi.
Cập nhật Nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết vào Bộ pháp điển đề mục Giáo dục. Cơ quan chủ trì: Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ quan phối hợp: Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức liên quan. Thời gian thực hiện: Năm 2026 và các năm tiếp theo. Sản phẩm: Bộ pháp điển được cập nhật kịp thời theo quy định của pháp luật.
Hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về các nội dung của Nghị quyết: Cơ quan chủ trì: Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ quan phối hợp: Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức liên quan. Thời gian thực hiện: Năm 2026 và các năm tiếp theo. Sản phẩm: Báo cáo kết quả Hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành Nghị quyết; tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị về Nghị quyết; kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình tổ chức thi hành Nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết Nghị quyết: Cơ quan chủ trì là Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ quan phối hợp là Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức có liên quan; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Thời gian thực hiện: Thường xuyên. Sản phẩm: Văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, trả lời phản ánh, kiến nghị, đôn đốc tổ chức thi hành Nghị quyết.
Sơ kết, tổng kết việc thi hành Nghị quyết: Cơ quan chủ trì là Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ quan phối hợp là các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Thời gian thực hiện: Định kỳ 5 năm hoặc đột xuất theo đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền. Sản phẩm: Hội nghị, báo cáo sơ kết, tổng kết.
Báo cáo về tổ chức thi hành Nghị quyết: Cơ quan chủ trì là Bộ Tư pháp. Cơ quan phối hợp: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Thời gian thực hiện: Định kỳ hằng năm hoặc đột xuất theo đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền. Sản phẩm: Báo cáo tổ chức thi hành Nghị quyết.
8. Rà soát và xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của Bộ Chính trị được ban hành đã đề ra các cơ chế, chính sách tạo đột phá cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, được thể chế hóa tại các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ. Tính công khai, minh bạch trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ngày càng được nâng cao. Việc tham vấn chính sách, lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật luôn được chú trọng tăng cường thông qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó Cổng Pháp luật quốc gia đóng vai trò là một kênh thông tin, cầu nối quan trọng để Nhân dân, các cơ quan, tổ chức kịp thời đóng góp, bảo đảm các quy định pháp luật bám sát thực tiễn. Các bộ, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm tiếp thu, giải trình và công khai việc tiếp thu, giải trình tới các cá nhân, tổ chức liên quan. Các chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức tham gia công tác xây dựng pháp luật được quan tâm thỏa đáng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện pháp luật, thể chế.
Sự phối hợp giữa Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan có liên quan trong xây dựng pháp luật ngày càng chặt chẽ, có hiệu quả hơn, trong đó Bộ, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo dự án luật, nghị quyết có trách nhiệm tham vấn với các cơ quan của Quốc hội từ khâu xây dựng chính sách nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất giữa Chính phủ, Quốc hội ngay từ giai đoạn đầu của quy trình xây dựng, ban hành luật, nghị quyết. Công tác rà soát, xử lý khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn do quy định pháp luật đạt kết quả tích cực với một số lượng lớn các phản ánh, kiến nghị trong giai đoạn từ năm 2020 - 2025 đã được xem xét, xử lý. Kết quả rà soát trở thành cơ sở, nguồn dữ liệu đáng tin cậy cho nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, pháp luật, bảo đảm kịp thời sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, rà soát, xử lý các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn trong năm 2025 và cả nhiệm kỳ vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tập trung khắc phục. Tại Phiên họp lần thứ bảy Ban Chỉ đạo của Chính phủ về rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật (ngày 17/01/2026), Thủ tướng đã chỉ đạo một số nhiệm vụ sau:
Đề cao trách nhiệm, phát huy vai trò của người đứng đầu, Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp chỉ đạo tập trung, tổ chức thực hiện công tác xây dựng pháp luật. Các đồng chí Lãnh đạo Chính phủ phụ trách lĩnh vực tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo Bộ trưởng, trưởng ngành trong công tác rà soát, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tiếp tục xác định thể chế là đột phá của đột phá để có cơ chế đầu tư phù hợp, ưu tiên bố trí nguồn lực, cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm khác tương xứng. Tập trung cho công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật để chuyển đổi trạng thái của thể chế từ điểm nghẽn của điểm nghẽn trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia và động lực, nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Xoay chuyển tình thế trong huy động các nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và những năm tiếp theo, trong đó lưu ý tập trung huy động các nguồn lực để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật từ không quản được thì cấm sang kiến tạo phát triển, bảo đảm chất lượng, hiệu quả hơn, thực hiện; ai làm tốt nhất thì giao, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính. Xác định rõ tinh thần xây dựng thể chế, pháp luật để tạo động lực cho xây dựng, phát triển đất nước là chiến lược, là cơ bản, lâu dài và phòng, chống là thường xuyên, quan trọng, phục vụ công tác quản lý trên các lĩnh vực. Không để tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư.
Các bộ, cơ quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, các bộ trưởng, trưởng ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện thể chế của ngành mình, lĩnh vực, địa bàn mình phụ trách; đề cao vai trò, tinh thần chủ động, chịu trách nhiệm toàn diện, tập trung thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được giao, trong đó bảo đảm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, không để tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết.
Tiếp tục hoàn thiện kết quả rà soát, bảo đảm xác định chính xác nội dung, thực hiện phương án xử lý và thời gian xử lý đối với những nội dung được xác định là khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật, nhất là nội dung liên quan đến chính quyền địa phương 2 cấp và các vướng mắc, khó khăn trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Tập trung rà soát kỹ các quy định của pháp luật để phục vụ cho việc xây dựng và hoàn thiện các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội; đồng thời, chuẩn bị kỹ nội dung các hồ sơ dự án luật, nghị quyết phục vụ các phiên họp Chính phủ về chuyên đề xây dựng pháp luật, bảo đảm chất lượng, thời hạn theo quy định.
Bộ Tư pháp - Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo hoàn thiện, nâng cấp Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm kết nối, liên thông, kịp thời xử lý, giải quyết các kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, góp ý của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương