Ngay sau khi Việt Nam vừa giành được độc lập ngày 02/9/1945, thực dân Pháp tiếp tục dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Để giữ vững độc lập dân tộc và tránh xảy ra một cuộc chiến tranh gây tổnthất của cả hai phía, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã nhiều lần chủ động đàm phán với Chính phủ Pháp. Tuy nhiên, thực dân Pháp quyết tâm theo đuổi chính sách xâm lược Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, thâm độc.
Trước tình hình đó, trong 2 ngày 18 và 19/12/1946, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Đảng đã họp mở rộng, quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên phạm vi toàn quốc. Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người chỉ rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”. Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược.
Từ những ngày đầu kháng chiến với vũ khí thô sơ và tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta kiên cường chiến đấu trên tất cả các chiến trường, tiêu hao sinh lực địch, làm phá sản một bước chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp. Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong năm đầu kháng chiến toàn quốc, bảo vệ an toàn căn cứ địa cách mạng và đầu não kháng chiến, mở ra giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Chiến thắng Biên Giới năm 1950 đã tạo ra chuyển biến cơ bản đưa kháng chiến bước vào giai đoạn ta nắm quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, chuyển hẳn sang liên tục tấn công và phản công địch. Chiến thắng Hòa Bình năm 1951, chiến thắng Tây Bắc năm 1952, chiến thắng Thượng Lào năm 1953 cùng với các chiến thắng khác của quân và dân ta đã tạo ra thế và lực mới của cuộc kháng chiến, ta chủ động tiến công địch trên tất cả các chiến trường.
Sau 8 năm kể từ khi nổ súng xâm lược Việt Nam lần thứ 2, thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động đối phó trên hầu hết các chiến trường; sự rối ren về chính trị, kiệt quệ về kinh tế bao trùm nước Pháp, khiến địch càng gặp nhiều khó khăn. Để cứu vãn tình thế, dưới sự bảo trợ của Mỹ, Chính phủ Pháp cử đại tướng H.Nava làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và cho ra đời kế hoạch Nava vào tháng 7/1953. Mục tiêu của kế hoạch Nava là trong vòng 18 tháng tiêu diệt phần lớn lực lượng chủ lực của ta, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, đưa Việt Nam vĩnh viễn trở thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Pháp và Mỹ. Kế hoạch Nava là nỗ lực cuối cùng của Pháp và Mỹ nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường Việt Nam, “chuyển bại thành thắng”.
Từ tình hình trên, Đảng ta nhận định: Kế hoạch Nava có thể gây cho ta những khó khăn mới, nhưng bản thân nó chứa đựng mâu thuẫn và nhược điểm không thể khắc phục nổi và nhất định sẽ thất bại. Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tấn công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 nhằm tiến công vào những hướng địch sơ hở, tiêu hao sinh lực địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch. Quân và dân ta phối hợp với quân, dân các nước Lào và Campuchia hình thành các đòn tiến công chiến lược: Tiến đánh và giải phóng Lai Châu; mở và giành thắng lợi trong các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào, Đông Campuchia, Tây Nguyên và Thượng Lào. Vì vậy, quân đội Pháp và tay sai bị đẩy vào thế bị động chiến lược, co cụm đối phó, dần dần hình thành nên cụm cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là điều nằm ngoài kế hoạch Nava của thực dân Pháp.
Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị họp, nhận định: Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng chỗ yếu cơ bản là bị cô lập. Về phía ta, khó khăn lớn nhất là vấn đề cung cấp hậu cần nhưng có thể khắc phục được. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, do đồng chí Võ Nguyên Giám trực tiếp chỉ huy. Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến ngày 07/5/1954, toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị quân ta tiêu diệt, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kéo dài suốt 9 năm của quân và dân ta; trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, một chiến thắng thể hiện sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại. Chiến thắng này đã bảo vệ và phát triển các thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề cho cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi. Chiến thắng này đã đi vào lịch sử thế giới, không chỉ soi sáng con đường cho các dân tộc vùng lên đấu tranh giải phóng khỏi áp bức bóc lột, mà còn chỉ rõ sự thất bại tất yếu của cả chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên phạm vi toàn thế giới.
Mai Tưởng