Tỉnh An Giang được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh An Giang và Kiên Giang, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại phường Rạch Giá. Tỉnh có 102 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 85 xã, 14 phường và 3 đặc khu. Sau sắp xếp, quán triệt nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, đặc biệt tinh thần “Một tỉnh - Một tầm nhìn - Một hành động - Một niềm tin”, Tỉnh ủy đã triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Trung ương về bảo đảm hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp liên thông, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả, nhất là 28 nghị định của Chính phủ về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền và Nghị định của Chính phủ về trung tâm phục vụ hành chính công. Tỉnh tổ chức nhiều đoàn làm việc trực tiếp với địa phương để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, từ
đó, giúp các địa phương vận hành tổ chức, bộ máy thông suốt, bước đầu hoạt động ổn định.
Thực hiện Kết luận số 183-KL/TW, ngày 01/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tích cực triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chuyển mạnh cấp cơ sở sang chủ động nắm, điều hành kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh; Kết luận số 186-KL/TW, ngày 29/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp và Nghị quyết số 268-NQ/CP, ngày 31/8/2025 của Chính phủ về tình hình triển khai thực hiện và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành các văn bản chỉ đạo các sở, ngành và địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; thành lập Tổ Giúp việc, Tổ Kiểm tra làm việc trực tiếp với địa phương, đơn vị để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Các sở, ban, ngành cấp tỉnh rà soát các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật chịu tác động bởi sắp xếp tổ chức bộ máy, các nội dung còn bất cập, thiếu hiệu quả, không còn phù hợp, để tham mưu sửa đổi, hoàn thiện thể chế, hành lang pháp lý. Kịp thời hướng dẫn nghiệp vụ trong một số lĩnh vực chuyên môn cho các đơn vị cấp xã, xử lý vướng mắc trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ tại Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Đồng thời, tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt động các kênh thông tin như các nhóm Zalo, đường dây nóng để hỗ trợ nhanh các vướng mắc của cơ sở…
Các xã, phường, đặc khu phát huy tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền; khắc phục các khó khăn trước mắt về bố trí đội ngũ cán bộ, trụ sở, điều kiện làm việc, nhất là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ mới. Một số xã, phường, đặc khu có nhiều cách làm hay, mô hình hiệu quả trong việc vận hành Trung tâm Phục vụ hành chính công, góp phần phục vụ tốt cho người dân và doanh nghiệp.
Với sự đoàn kết, thống nhất và quyết tâm chính trị cao của cấp ủy, chính quyền và toàn thể nhân dân địa phương, việc xây dựng và vận hành chính quyền hai cấp tại tỉnh An Giang đạt được nhiều kết quả tích cực.
Về sắp xếp tinh gọn các tổ chức bên trong của sở, ngành, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh. Tỉnh đã thực hiện sắp xếp tinh gọn tổ chức; hợp nhất, sáp nhập, giải thể hoặc tổ chức lại các phòng, ban, chi cục, tổ chức có chức năng tương đồng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức trong thời kỳ mới. So với thời điểm 31/10/2024, qua thực hiện các đề án sáp nhập tổ chức bộ máy, đến nay đầu mối bên trong các cơ quan tham mưu giúp việc Tỉnh ủy đã sắp xếp giảm 49 đơn vị (từ 55 còn 25, tỷ lệ 55%); Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội giảm 42 đơn vị (từ 52 xuống còn 10, tỷ lệ 81%), cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh giảm 137 đơn vị (từ 256 xuống còn 119, tỷ lệ 54%). Qua hơn 05 tháng vận hành, số lượng, cơ cấu tổ chức đầu mối bên trong cơ bản phù hợp.
Về chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức. Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐND, ngày 29/7/2025 quy định chế độ hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động sau khi sắp xếp đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh An Giang, theo đó hỗ trợ chi phí đi lại 2.000.000 đồng/người/tháng; hỗ trợ sinh hoạt phí 1.500.000 đồng/người/tháng và hỗ trợ lưu trú 1.500.000 đồng/người/tháng. Tỉnh đã giải quyết và chi trả chế độ kịp thời cho 4.310 trường hợp nghỉ hưu trước tuổi, nghỉ thôi việc theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ, với tổng số tiền trên 4.328 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh chi trả kịp thời 284 người làm việc ngoài chỉ tiêu biên chế tại các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp tỉnh hoặc ở cấp huyện trước thời điểm ngày 01/7/2025 trên địa bàn tỉnh An Giang theo quy định tại Nghị quyết số 07/2025/NQ-CP, ngày 17/9/2025 của Chính phủ.
Về đội ngũ cán bộ, công chức. Tổng số cán bộ, công chức có mặt trước sắp xếp là 9.632, trong đó cấp tỉnh là 2.393, cấp huyện là 2.584, cấp xã là 4.655. Tổng số cán bộ, công chức có mặt sau sắp xếp là 6.507, trong đó cấp tỉnh là 1.827, cấp xã là 4.680. Số lượng cán bộ, công chức, viên chức nghỉ chính sách tương đối lớn, dẫn đến các xã, phường, đặc khu thiếu đội ngũ chuyên môn, thiếu nhân sự lãnh đạo, quản lý điều hành. Để khắc phục tình trạng này, thực hiện các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch rà soát, sắp xếp bố trí cán bộ, công chức và điều động, biệt phái, tiếp nhận vào làm công chức để tăng cường hỗ trợ cho chính quyền các xã, phường, đặc khu. Kết quả, tỉnh đã điều động, tăng cường, biệt phái 833 công chức, viên chức cho cấp xã, cụ thể: Điều động công chức, viên chức từ các sở, ban, ngành tỉnh về cấp xã là 68; điều động từ xã này qua xã khác là 32 và tăng cường 714 viên chức trong đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường về cấp xã; tăng cường, biệt phái 19 công chức, viên chức chuyên môn cho đặc khu Phú Quốc để hỗ trợ, phục vụ APEC năm 2027. Đồng thời, tỉnh triển khai kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng công chức cấp tỉnh và cấp xã.
Về nâng cấp trang thiết bị, xử lý cơ sở vật chất, trụ sở dôi dư.
Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng phương án xử lý tài sản và tổ chức thực hiện phương án xử lý tài sản, cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị phục vụ chính quyền hai cấp đáp ứng nhu cầu làm việc như: trụ sở làm việc, trung tâm hành chính công (sử dụng trụ sở cấp huyện và cấp xã trước sắp xếp), xe ô tô (1 xe/xã), máy móc, thiết bị, công cụ,... (tiếp nhận từ cấp huyện và cấp xã trước sáp nhập). Đến nay, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phân bổ kinh phí khoảng 360 tỷ đồng để hỗ trợ sửa chữa cơ sở vật chất, đảm bảo trang thiết bị cơ bản cho các sở, ngành cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu; ban hành quyết định giao tài sản công (cơ sở nhà, đất; xe ô tô; tài sản cố định và công cụ dụng cụ) cho 102/102 xã, phường, đặc khu và ban hành quyết định giao cơ sở nhà, đất dôi dư tại các cơ quan, đơn vị và địa phương về Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh để quản lý, khai thác, xử lý theo quy định.
Về cải cách hành chính. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ trước hạn và đúng hạn đạt 94,81%. Tỉnh An Giang đã tích hợp 93,83% dịch vụ công trực tuyến một phần và toàn trình của tỉnh (2.054 dịch vụ) trên Cổng dịch vụ công quốc gia (riêng theo Quyết định số 238/QĐ-UBND ngày 14/7/2025, Quyết định số 242/QĐ/UBND ngày 14/7/2025 của UBND tỉnh, đạt tỷ lệ 100%).
Về công tác văn thư, lưu trữ và số hóa tài liệu. Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Bộ Nội vụ về việc tăng cường quản lý công tác văn thư, lưu trữ, số hóa tài liệu lưu trữ trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo Kết luận số 127-KL/TW của Bộ Chính trị, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị về việc tăng cường quản lý công tác văn thư, lưu trữ trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh An Giang. Đến thời điểm hiện tại, tỉnh đã hoàn thành khảo sát, thống kê tài liệu tại các sở, ban, ngành tỉnh và các hội đặc thù. Hiện đang tổ chức vận chuyển, tiếp nhận tài liệu đã chỉnh lý tại các phòng, ban chuyên môn huyện đã kết thúc hoạt động về Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh quản lý theo quy định. Đồng thời, xây dựng dự thảo phương án quản lý, xử lý hồ sơ tồn đọng, tích đóng, cơ sở dữ liệu tài liệu điện tử tại các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2025-2030. Công tác số hóa tài liệu lưu trữ đến thời điểm tháng 11/2025 đạt 33,1%. Tổng số tài liệu đã số hóa 1.632 mét giá tài liệu, trong đó, tại Kho lưu trữ Kiên Giang (trước sáp nhập) 465 mét giá tài liệu tương đương 4.650 hộp, 12.791 hồ sơ; tại Kho lưu trữ An Giang (trước sáp nhập) 1.167 mét giá tài liệu tương đương 7.864 hộp, 91.808 hồ sơ. Nhu cầu số hoá trong năm 2026 tại Trung tâm Lưu trữ lịch sử 6.339.903 trang, phấn đấu đạt 100% trong năm 2026.
Về sắp xếp đơn vị sự nghiệp, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng về trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tỉnh đang hoàn chỉnh phương án sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức bên trong hệ thống hành chính nhà nước để triển khai thự
c hiện. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quyết định số 208-QĐ/TU, ngày 27/8/2025 về phê duyệt đề án hợp nhất, sáp nhập các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh An Giang. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định cho phép hợp nhất, sáp nhập, đổi tên đối với 18 hội cấp tỉnh (sau sắp xếp) theo đúng chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh; hợp nhất, sáp nhập, thành lập, đổi tên 12 hội xã hội - nghề nghiệp. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã tích cực, chủ động thực hiện các nội dung theo đúng quy định pháp luật để hoàn thành kế hoạch sắp xếp các hội quần chúng về trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Về xây dựng hạ tầng số. Internet cáp quang tốc độ cao đã đến 100% trung tâm xã, phường, đặc khu; Internet di động băng rộng phủ sóng 100% khóm, ấp, đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ, tìm kiếm thông tin của người dân trong tỉnh. 100% các khu công nghiệp, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện có kết nối Internet phục vụ công tác quản lý, điều hành. 100% cơ quan nhà nước của tỉnh có mạng cục bộ (LAN) và được kết nối mạng Internet, mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước. Hạ tầng kỹ thuật tại Trung tâm dữ liệu tỉnh phục vụ cài đặt, vận hành các hệ thống thông tin dùng chung của tỉnh và các ứng dụng, cơ sở dữ liệu chuyên ngành được duy trì hoạt động ổn định và đảm bảo an toàn thông tin. Hiện đang triển khai nâng cấp Trung tâm dữ liệu tỉnh theo hướng sử dụng công nghệ điện toán đám mây. Hạ tầng mạng nội bộ tại Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu được nâng cấp, mở rộng, đảm bảo hoạt động thông suốt, ổn định, phục vụ tốt công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh khi thực hiện mô hình chính quyền hai cấp. Các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh được cấp 18.312 chữ ký số chuyên dùng công vụ, trong đó, cá nhân 17.554 (Token 16.496, Sim PKI 1.058), tổ chức 758 (tăng 292 chữ ký số với tháng 10/2025). Hỗ trợ gia hạn, thay đổi thông tin 102 chữ ký số; hỗ trợ khôi phục thiết bị lưu khóa bí mật (chữ ký số) 44 thiết bị. Đảm bảo 100% tổ chức, trên 97% cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan nhà nước có chữ ký số để sử dụng.
Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, công tác vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh An Giang, cũng còn một số hạn chế, khó khăn. Trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã không đồng đều; một số xã, phường, đặc khu còn thiếu nhân sự có trình độ, kinh nghiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục, đất đai, hộ tịch... Công tác lưu trữ và số hóa tài liệu lưu trữ, một số hồ sơ chưa được chỉnh lý khoa học do lưu trữ thủ công lâu năm; khối lượng tài liệu tồn đọng cần chỉnh lý rất lớn, trong khi nhân lực và kinh phí còn hạn chế. Sau sáp nhập, địa bàn và dân số tăng, yêu cầu nhiệm vụ phân cấp, phân quyền tăng lên, nhưng bộ máy tổ chức và cơ chế tài chính vẫn giữ nguyên như trước, dẫn đến áp lực lớn cho đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương; ngoài ra một số
Nghị định, Thông tư còn mang tính nguyên tắc, thiếu quy định cụ thể nên địa phương, đặc biệt là cấp xã gặp khó khăn trong triển khai thực hiện. Hệ thống mạng nội bộ, đường truyền Internet, đặc biệt là ở các đảo nhỏ đôi lúc chưa ổn định, gây gián đoạn trong xử lý thủ tục hành chính và vận hành các phần mềm dùng chung. Một số trang thiết bị công nghệ thông tin, thiết bị mạng đã cũ, xuống cấp không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Để khắc phục hạn chế, khó khăn, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại An Giang cần thực hiện đồng bộ một số các giải pháp sau:
Thứ nhất, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tích cực, chủ động thực hiện các công việc; tăng cường kiểm tra, đôn đốc, nắm tình hình, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý các vấn đề phát sinh. Tập trung triển khai và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh về nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại...; bảo đảm kịp thời, không để bỏ sót, chậm trễ, khoảng trống, gián đoạn trong thực hiện các nhiệm vụ, không đùn đẩy trách nhiệm.
Thứ hai, tiếp tục tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là đội ngũ cán bộ cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới. Duy trì các bộ phận thường trực để hướng dẫn, kịp thời hỗ trợ chuyên môn, giải quyết ngay các vấn đề, tình huống phát sinh tại cơ sở. Mỗi ngành xây dựng Sổ tay hướng dẫn để người dân, doanh nghiệp tiếp cận được quy trình, quy định, thẩm quyền một cách nhanh nhất, khoa học và dễ hiểu.
Thứ ba, tiếp tục sắp xếp, điều chuyển biên chế giữa các xã, phường, đặc khu cho phù hợp, cơ cấu lại hợp lý để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, bảo đảm đúng người, đúng việc, đúng chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường năng lực cho cấp xã, kiện toàn các vị trí, chức danh còn thiếu. Tiếp tục sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp (cấp huyện cũ) như trung tâm văn hóa - thể thao và truyền thông, ban quản lý dự án, trung tâm dịch vụ nông nghiệp... cho phù hợp.
Thứ tư, tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật nhằm giải quyết khó khăn, vướng mắc liên quan các nhóm vấn đề và theo dõi sát tình hình thực hiện, đặc biệt là ở cấp xã. Tập hợp danh sách cán bộ các bộ, ngành biệt phái về hỗ trợ địa phương, làm việc với các sở, ngành liên quan để phân công về các địa bàn đảm bảo phát huy hiệu quả.
Thứ năm, thường xuyên rà soát, tăng cường nguồn lực đầu tư về cơ sở vật chất và nâng cấp hạ tầng mạng, trang thiết bị công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, đặc biệt là các địa phương vùng sâu, vùng xa, hải đảo.
Thứ sáu, kiến nghị các bộ, ngành Trung ương có văn bản hướng dẫn cụ thể cho địa phương trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao. Đồng thời, có sự phân công, phân cấp rõ ràng gắn với điều chỉnh cơ chế tài chính, nguồn lực phù hợp đảm bảo điều kiện thuận lợi cho các địa phương thực hiện hiệu quả.
Hồ Văn Mừng
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang