Văn bản mới (số tháng 7 năm 2026)
- Thứ hai - 29/06/2026 21:54
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Vĩnh Bình hướng dẫn hội viên sử dụng nền tảng số, góp phần triển khai hiệu quả Phong trào “Bình dân học vụ số” tại cơ sở. Ảnh: Bích Thùy
1. Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 06/6/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới
Chỉ thị nêu rõ: Trải qua hơn 65 năm xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Viện kiểm sát nhân dân không ngừng đổi mới, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, góp phần quan trọng xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phục vụ hiệu quả sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước. Tuy nhiên, công tác kiểm sát có mặt còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp; một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của ngành Kiểm sát nhân dân trong hệ thống chính trị...
Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới
Quán triệt sâu sắc, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế hiến định, đặc trưng của hệ thống chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, là một trong những trụ cột bảo vệ công lý, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất.
Viện kiểm sát nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất; thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước, giữ vai trò trung tâm kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp, có trách nhiệm phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa và xử lý vi phạm, tội phạm trong quá trình thực thi quyền lực trong hoạt động tư pháp, kiên quyết chống oan, sai, không để lọt tội phạm, góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời ban hành chủ trương, định hướng lớn về công tác kiểm sát đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và địa phương; bố trí người đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân các cấp tham gia cấp ủy tương xứng với vị trí, chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả cơ chế phối hợp, kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp giữa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan có liên quan; phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với công tác kiểm sát; Viện kiểm sát nhân dân các cấp tăng cường phối hợp với cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để thực hiện hiệu quả quyền giám sát.
Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng Viện kiểm sát nhân dân các cấp phát huy cao nhất vai trò nêu gương, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, kịp thời cụ thể hoá vào các lĩnh vực công tác; chủ động báo cáo, đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền những vấn đề lớn, trọng tâm, đồng thời tích cực tham mưu với cấp uỷ về chủ trương, định hướng công tác kiểm sát và công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan, tổ chức có liên quan, bảo đảm đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả.
Hai là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, thực chất hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại
Đổi mới mạnh mẽ, thực chất nội dung, phương pháp thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp theo hướng quản trị tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, dựa trên chứng cứ số, khoa học dữ liệu, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các lĩnh vực công tác kiểm sát. Phát huy vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ thực chất, hiệu quả quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước và quyền của nhóm yếu thế; thông qua cơ chế tố tụng góp phần khắc phục vi phạm trong quản lý kinh tế - xã hội.
Tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra ngay từ đầu và xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án, bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định truy tố thực sự khách quan, công bằng, đúng pháp luật, dựa trên chứng cứ hợp pháp, vì công lý và lẽ phải. Nâng cao năng lực, kỹ năng tranh tụng, bản lĩnh và tính thuyết phục của kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố tại phiên toà. Thực hiện nhất quán chủ trương kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tội phạm, vừa nghiêm minh, vừa nhân văn, hướng thiện. Quán triệt phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “phòng ngừa là chính” với phát hiện, xử lý kịp thời, khách quan, toàn diện, xem xét, đánh giá trong bối cảnh lịch sử cụ thể, lấy hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc làm căn cứ quan trọng để xử lý phù hợp; bảo vệ người đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không tham nhũng, tiêu cực, không vụ lợi; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người dân, phục vụ kiến tạo phát triển.
Tăng cường kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tư pháp, nhất là trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân. Đổi mới nội dung, phương pháp kiểm sát, có giải pháp căn cơ, đột phá nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án, vụ việc, kiểm sát thi hành án, quản lý tạm giữ, tạm giam, công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và các hoạt động tư pháp khác bảo đảm tuân thủ đúng pháp luật. Tăng cường kiểm sát việc xử lý vật chứng, tài sản trong các giai đoạn tố tụng và nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kịp thời phát hiện và thực hiện hiệu quả quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu phòng ngừa, khắc phục vi phạm từ sớm, từ xa; chủ động kiến nghị hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thượng tôn pháp luật.
Tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp, thúc đẩy hợp tác trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, tội phạm phi truyền thống, tham gia hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế. Phát huy vai trò cơ quan Trung ương về tương trợ tư pháp hình sự; chủ động nghiên cứu, đề xuất đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước, thoả thuận quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ba là, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển hoàn thiện lý luận, thể chế về Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận về Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về tư pháp, công tác kiểm sát và các lĩnh vực liên quan nhằm thể chế hoá đầy đủ, kịp thời các chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp về đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, giải quyết tranh chấp theo các văn kiện, nghị quyết của Đảng, trước hết là Nghị quyết Đại hội XIV; chủ động tham mưu rà soát, hoàn thiện pháp luật nhằm tạo cơ sở vững chắc để xử lý tội phạm, vi phạm; đồng thời, tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, an toàn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực, phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế.
Chủ trì hoặc phối hợp tham gia hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự theo hướng hiện đại, đồng bộ, khả thi, nhanh, gọn, hiệu quả; mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn; chú trọng hoàn thiện chính sách miễn, giảm, hoãn, loại trừ, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số hành vi, loại tội với tiêu chí, điều kiện chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa xử lý nghiêm minh và nhân đạo, khoan hồng, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc và Nhân dân lên trên hết.
Hoàn thiện cơ chế khởi kiện vụ án dân sự, nghiên cứu xây dựng cơ chế khởi kiện vụ án hành chính bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công; đồng thời, nghiên cứu phát triển các cơ chế xử lý phi tố tụng, cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Toà án và cơ chế thu hồi, xử lý tài sản không qua kết tội, bảo đảm giảm thiểu xung đột xã hội, tiết kiệm chi phí tố tụng và chi phí xã hội.
Bốn là, đẩy mạnh xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại
Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong của Viện kiểm sát nhân dân theo chủ trương của Đảng; cơ cấu hợp lý đội ngũ kiểm sát viên; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa các cấp kiểm sát và đối với kiểm sát viên.
Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát vững về chính trị, trong sáng về đạo đức, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, bản lĩnh, chuyên nghiệp, liêm chính, lấy phương châm “Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng, Khiêm tốn” làm chuẩn mực đạo đức và hành động. Chú trọng bồi dưỡng tư duy đổi mới, sáng tạo, năng lực hành động, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nâng cao năng lực chuyển đổi số, tham gia và xử lý các vấn đề pháp lý quốc tế. Đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, cán bộ lãnh đạo, quản lý thực sự tiêu biểu, có tư duy phát triển, năng lực quản trị tiên tiến, đáp ứng yêu cầu tổ chức bộ máy và mục tiêu phát triển của đất nước. Tăng cường thực hiện và chịu trách nhiệm trong kiểm soát nội bộ, kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, kiên trì thực hành văn hoá liêm chính; chủ động phòng ngừa, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vi phạm pháp luật và kỷ luật đảng trong toàn ngành Kiểm sát nhân dân.
Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực kiểm sát đáp ứng yêu cầu “chuyên nghiệp - hiện đại - hội nhập”; phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài; xây dựng Trường Đại học Kiểm sát theo hướng chuẩn hoá, hiện đại, đạt chuẩn khu vực và quốc tế, đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ kiểm sát viên trong thực thi công vụ theo quy định của Đảng, Nhà nước, bảo đảm an toàn nghề nghiệp, phòng ngừa và ngăn chặn tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến yêu cầu khách quan trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Năm là, bảo đảm nguồn lực, hiện đại hóa Viện kiểm sát nhân dân
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức và bảo đảm điều kiện hoạt động để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bảo đảm kinh phí, chế độ, chính sách, các điều kiện cần thiết khác từ ngân sách trung ương và nguồn hỗ trợ từ ngân sách địa phương để hiện đại hoá Viện kiểm sát nhân dân. Xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân hiện đại trên nền tảng số, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và dữ liệu lớn trong quản lý, điều hành hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; từng bước hình thành hệ sinh thái tư pháp số, thực hiện số hoá toàn trình các quy trình nghiệp vụ, triển khai các nền tảng số hiện đại, kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan tư pháp và cơ quan liên quan trên cơ sở nền tảng dùng chung; chú trọng bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác trong môi trường số. Nâng cao năng lực phân tích, khai thác dữ liệu số để đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất chính sách, giải pháp phòng, chống tội phạm kịp thời, hiệu quả. Mở rộng các tiện ích số, tăng cường thông tin, tuyên truyền về Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân trong tình hình mới.
Bộ Chính trị đề nghị các ban đảng Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tổ chức phổ biến, quán triệt, thống nhất về nhận thức và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ. Trong đó, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy Công an Trung ương; Quân ủy Trung ương; Đảng ủy Toà án nhân dân tối cao và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ theo quy định, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong Chỉ thị. Đảng uỷ Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan liên quan tham mưu giúp Bộ Chính trị hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị.
Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ.
2. Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Về quan điểm chỉ đạo, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nội dung sau:
Một là, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Hai là, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu; đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Ba là, chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng... làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Bốn là, phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, dữ liệu, năng lượng; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài hình thành trụ sở khu vực và các trung tâm điều hành, nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ của khu vực.
Năm là, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo cao, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu. Bảo đảm cơ chế đối thoại, tiếp nhận, xử lý kịp thời kiến nghị, khiếu nại trên nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa các bên; xử lý tranh chấp đầu tư theo quy định của pháp luật; khuyến khích các bên tự hòa giải, thông qua cơ chế hòa giải thương mại và trọng tài thương mại.
Sáu là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia; phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trên cơ sở thống nhất chiến lược, quy hoạch, tiêu chí, cơ chế giám sát; lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.
Về mục tiêu tổng quát: Đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.
Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết nêu rõ: Đến năm 2030, phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Giai đoạn 2026-2030: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm). 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung, trong đó có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam; thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I. Tỷ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%; nâng cao rõ rệt tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành, chuỗi cung ứng trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái, bao gồm chuyển đổi và thành lập mới chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước. Phấn đấu trước năm 2030, thị trường chứng khoán được tổ chức xếp hạng thị trường MSCI nâng hạng.
Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo, điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở châu Á, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; thị trường vốn phát triển hiện đại, minh bạch, an toàn, tiệm cận thông lệ quốc tế. Phấn đấu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Nghị quyết đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp, cụ thể: (1) Nhóm nhiệm vụ chung gồm đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài; nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư chiến lược; (2) Đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, địa bàn; (3) Thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa, liên kết với khu vực kinh tế trong nước; (4) Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; (5) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; (6) Hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư gián tiếp nước ngoài; (7) Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan có liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
3. Kết luận số 40-KL/TW, ngày 02/6/2026 của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung Quy định về quản lý biên chế của hệ thống chính trị; giao biên chế của hệ thống chính trị năm 2026 và định hướng giai đoạn 2027-2031
Kết luận nêu rõ: Về nội dung bổ sung, sửa đổi Quy định của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị (thay thế Quy định số 70-QĐ/TW) và Quyết định giao biên chế năm 2026: Cơ bản thống nhất với nội dung nêu tại Tờ trình số 38-TTr/BTCTW và Tờ trình số 39-TTr/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Giao Ban Tổ chức Trung ương tiếp thu ý kiến Bộ Chính trị để bổ sung, hoàn thiện dự thảo Quy định về quản lý biên chế và Quyết định giao biên chế năm 2026 của hệ thống chính trị, rà soát kỹ số liệu, bảo đảm chính xác, trình đồng chí Thường trực Ban Bí thư xem xét, ban hành.
Về định hướng giao biên chế giai đoạn 2027- 2031, cụ thể như sau:
Một là, tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế của hệ thống chính trị (khoảng từ 5-10%) trên cơ sở kế hoạch, lộ trình, cam kết trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương trong việc thực hiện phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, áp dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, ứng dụng phương pháp quản trị, quản lý mới, cải cách thủ tục hành chính, tinh giản quy trình công việc, giảm khâu trung gian trong tác nghiệp, sắp xếp tinh gọn tổ chức bên trong, sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, giảm số lượng lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, tổ chức làm cơ sở xây dựng lộ trình giảm biên chế, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng và chuẩn hóa cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ xã, phường, đặc khu và nâng cao năng suất lao động, giảm giờ làm, cải cách chính sách tiền lương khu vực công.
Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới định mức biên chế; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và liên thông từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp xã bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, liên thông, dùng chung”; trong đó, có cơ sở dữ liệu quốc gia về biên chế, cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Ba là, đẩy mạnh phân cấp quản lý biên chế cho các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương. Thực hiện rà soát định kỳ hằng năm để kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp tình hình thực tế; thu hồi, điều chuyển biên chế đồng bộ với lộ trình thực hiện phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, cải cách hành chính và chuyển biên chế từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi thiểu hụt, quá tải.
Bốn là, áp dụng phương pháp quản trị theo dữ liệu, lượng hóa công việc để xác định nhu cầu biên chế thực tế. Chuyển từ quản lý số lượng biên chế sang quản lý chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ; định kỳ đánh giá cán bộ bằng các chỉ số được lượng hoá, đưa ra khỏi hệ thống những người không đủ năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ để thực hiện tuyển dụng công chức, viên chức đủ trình độ, năng lực vào bộ máy.
Về tổ chức thực hiện:
Thứ nhất, giao ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; tập thể lãnh đạo ban, cơ quan, đơn vị ở Trung ương, ban thường vụ các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế; ban thường vụ đảng ủy bộ, cơ quan ngang bộ lãnh đạo, chỉ đạo việc giao, quản lý biên chế năm 2026 theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, có kế hoạch bố trí, sắp xếp chuyển ngạch để bảo đảm đủ số lượng công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan, đơn vị, không để tình trạng viên chức thực hiện vị trí việc làm của công chức, chủ động rà soát, điều chỉnh cơ cấu, số lượng phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, nhất là các cơ quan, đơn vị, địa phương thiếu vị trí chuyên môn cần phải bổ sung kịp thời.
Đối với những nơi có số công chức, viên chức có mặt lớn hơn số biên chế được giao năm 2026 phải khẩn trương xây dựng kế hoạch, giải pháp, lộ trình phù hợp, khả thi nhằm từng bước sắp xếp, điều chỉnh để đến hết năm 2026 phải đưa về đúng số biên chế được Bộ Chính trị giao. Đối với các thành phố lớn, đô thị đặc biệt (như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) được Bộ Chính trị quyết định cơ chế đặc thù về quản lý, sử dụng biên chế thì thực hiện theo chủ trương, kết luận của Bộ Chính trị. Các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng biên chế Bộ Chính trị giao theo đúng vị trí việc làm công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.
Thứ hai, giao Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo việc thể chế hóa, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện nghiêm các nhiệm vụ, giải pháp, định hướng xác định, giao biên chế giai đoạn 2027-2031; lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc theo chức năng, nhiệm vụ khẩn trương xây dựng định mức biên chế, số lượng người làm việc, cơ cấu công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị, ngành, lĩnh vực trên cơ sở lượng hóa kết quả chuyển đổi số, cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, phân loại đơn vị hành chính; dân số, diện tích, GRDP; chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phân loại cơ quan, đơn vị; khối lượng công việc; đặc thù ngành, lĩnh vực, địa phương... để làm cơ sở đề xuất, xác định, giao biên chế giai đoạn 2027-2031 (hoàn thành trước ngày 15/9/2026).
Thứ ba, giao Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu một cách toàn diện và đề xuất đổi mới công tác quản lý và giao biên chế của hệ thống chính trị nhằm bảo đảm hiệu quả thực chất, đồng bộ với chủ trương, chính sách của Đảng về đề án vị trí việc làm và đề án tiền lương. Trong đó quán triệt một số yêu cầu sau:
Đổi mới căn bản tư duy, nhận thức, phương pháp xác định biên chế của hệ thống chính trị; chuyển từ tư duy cố định, dài hạn sang theo chu kỳ 3 năm để điều chỉnh phù hợp; xác định biên chế bảo đảm khoa học, khách quan, theo định mức, tiêu chí, tiêu chuẩn rõ ràng, phù hợp thực tiễn; giải quyết cơ bản các hạn chế, bất cập từ nhiều nhiệm kỳ.
Giao biên chế phải gắn chặt với đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm và kết quả đầu ra cụ thể, những công việc có thể số hóa, tự động hóa, xã hội hóa thì kiên quyết giảm biên chế hành chính giản đơn để tăng cường cho các lĩnh vực then chốt, trong đó ưu tiên các nhiệm vụ chiến luợc, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế số và các địa phương trọng điểm, cực phát triển gắn với thực hiện các chỉ tiêu phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, bảo đảm tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị 3 cấp tinh gọn, họat động thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia, quản trị địa phương, phục vụ người dân, doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu phát triển và tăng trưởng “2 con số” của đất nước trong giai đoạn mới.
Công tác quản lý biên chế phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Phải chuyển mạnh tư duy “quản lý biên chế” sang “quản trị nguồn nhân lực quốc gia phục vụ phát triển đất nước” với mục tiêu quản lý và sử dụng hiệu quả từng biên chế được giao. Xác định tổng biên chế của hệ thống chính trị có cơ cấu hợp lý; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có chất lượng cao, được quản lý chặt chẽ, hiệu quả.
Không để tình trạng nơi thiếu người làm việc thì không được bổ sung, trong khi nơi hiệu quả thấp vẫn giữ biên chế ổn định. Phải có cơ chế mạnh hơn để sàng lọc, thay thế người không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thực hiện đúng nguyên tắc “có vào - có ra” đối với biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước, không để tình trạng vào biên chế là ổn định suốt đời.
Đặc biệt, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “xin biên chế”, “giữ ghế”, “giữ cơ cầu” vì lợi ích cục bộ. Từng bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương rà soát kỹ lưỡng, thực hiện sắp xếp tổ chức bên trong, bảo đảm lược bỏ các khâu trung gian, bộ phận hoạt động hình thức, năng suất thấp. Đẩy mạnh chuyển giao các nhiệm vụ và dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm. Nghiên cứu tạo bước đột phá trong việc tinh giản biên chế sự nghiệp gắn với đẩy mạnh tự chủ các đơn vị sự nghiệp công lập; tăng cường xã hội hóa những công việc, dịch vụ mà khu vực tư nhân có thể thực hiện tốt, nhất là lĩnh vực giáo dục, y tế. Cân đối, phù hợp với kế hoạch ngân sách trung hạn; tăng cường tiết kiệm chi thường xuyên, giảm tỷ trọng chi hoạt động của bộ máy trong tổng chi ngân sách nhà nước, tăng thu nhập, tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ tư, giao Ban Tổ chức Trung ương tiếp thu ý kiến Bộ Chính trị và chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu kỹ lưỡng, đổi mới toàn diện để xây dụng phương án giao biên chế giai đoạn 2027-2031 thật sự khoa học với những định mức, tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng đến từng vị trí việc làm; gắn với hoàn thiện các quy định về quản lý, sử dụng biên chế một cách hiệu quả, thực chất, báo cáo Bộ Chính trị vào cuối quý IV/2026.
4. Quy định số 183-QĐ/TW, ngày 02/6/2026 của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị
Quy định 183-QĐ/TW Quy định có 3 chương, 9 điều khoản thi hành; quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác quản lý biên chế cán bộ, công chức, biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước; số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập của hệ thống chính trị (gọi tắt là các đơn vị sự nghiệp công lập), số người làm việc tại các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong hệ thống chính trị.
Về nguyên tắc quản lý biên chế, Bộ Chính trị lãnh đạo, chỉ đạo quản lý biên chế, quản lý số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện trách nhiệm quản lý biên chế, quản lý số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tổng biên chế của hệ thống chính trị được quyết định theo nhiệm kỳ 5 năm và khi cần thiết.
Giao chỉ tiêu biên chế, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một phần do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định trong tháng 10 hằng năm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm, quy mô, tính chất quan trọng, yếu tố đặc thù của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan, đơn vị; tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách hành chính, cải cách chính sách tiền lương. Khuyến khích thực hiện cơ chế khoán biên chế gắn với khoán quỹ lương cho các cơ quan, đơn vị.
Tăng cường phân cấp, phân quyền, nêu cao trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu trong công tác quản lý, sử dụng biên chế. Chỉ thực hiện xem xét tăng chỉ tiêu biên chế khi được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định thành lập tổ chức mới, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, tăng quy mô, khối lượng công việc gắn với vị trí việc làm hoặc thiếu biên chế so với định mức quy định; thực hiện giảm biên chế theo quy định hoặc khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định kết thúc hoạt động, giải thể tổ chức, giảm chức năng, nhiệm vụ, đơn vị sự nghiệp công lập tăng mức độ tự chủ tài chính.
Quy định cũng nêu rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác quản lý biên chế gồm: Bộ Chính trị; Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế; Các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế; Các cơ quan, tổ chức trực thuộc Trung ương, ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị ở Trung ương.
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký, thay thế Quy định số 70-QĐ/TW, ngày 18/7/2022 về việc ban hành Quy định của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị.
5. Hướng dẫn số 03-HD/BTCTW, ngày 20/6/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về sắp xếp, thành lập tổ chức đảng ở thôn, tổ dân phố
Về mục đích, yêu cầu: Hướng dẫn nhằm sắp xếp, thành lập tổ chức đảng phải đồng bộ, thống nhất và tương ứng với việc sắp xếp, thành lập thôn, tổ dân phố, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và thực tiễn của từng địa phương nhằm góp phần tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Thành lập tổ chức đảng và xây dựng phương án nhân sự ở thôn, tổ dân phố sau sắp xếp là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt theo đúng tiến độ, yêu cầu đề ra; phát huy dân chủ đi đôi với đề cao trách nhiệm của cấp ủy, chi bộ và cán bộ, đảng viên trên cơ sở khách quan, minh bạch, đoàn kết, thống nhất và đồng thuận sau sắp xếp; kiên quyết khắc phục tư tưởng cá nhân, cục bộ, địa phương, “lợi ích nhóm”, thiếu tính xây dựng.
Công tác nhân sự phải thực hiện theo đúng quy định của Đảng, Nhà nước, bảo đảm cơ cấu độ tuổi hợp lý, hài hòa giữa tính kế thừa và yêu cầu trẻ hóa đội ngũ cán bộ. Nhân sự được lựa chọn phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, trong đó đặc biệt coi trọng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, uy tín, sức khỏe, tinh thần trách nhiệm, trình độ, năng lực lãnh đạo, khả năng quy tụ, vận động quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tập trung vào đối tượng trẻ, có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có năng lực quản trị, trình độ khoa học công nghệ, chuyển đổi số; quan tâm ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, những nơi có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh-quốc phòng.
Về việc sắp xếp, thành lập tổ chức Đảng ở thôn, tổ dân phố sau sắp xếp:
(1) Về tên gọi
Tên gọi của các chi bộ thôn, tổ dân phố mới lấy theo tên gọi trong nghị quyết của hội đồng nhân dân xã, phường hoặc quyết định của ủy ban nhân dân đặc khu về sắp xếp, thành lập thôn, tổ dân phố. Đối với các thôn, tổ dân phố không thuộc diện sắp xếp nhưng có thay đổi về tên gọi thì ban hành quyết định đổi tên chi bộ.
(2) Về nhiệm kỳ
Thống nhất thực hiện thí điểm nhiệm kỳ của chi bộ thôn, tổ dân phố là 5 năm, áp dụng đối với cả chi bộ mới thành lập sau sắp xếp và chi bộ không thuộc diện sắp xếp; thời gian nhiệm kỳ tính theo thời gian nhiệm kỳ của cấp ủy cấp trên trực tiếp là nhiệm kỳ 2025-2030.
(3) Về trách nhiệm của cấp ủy các cấp
- Các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương trên cơ sở chủ trương sắp xếp, thành lập thôn, tổ dân phố lãnh đạo, chỉ đạo các đảng ủy xã, phường, đặc khu xây dựng đề án về sắp xếp, thành lập mới các chi bộ và đề án nhân sự (bao gồm chi ủy, bí thư, phó bí thư),
- Đảng ủy xã, phường, đặc khu tổ chức triển khai và hoàn thành một số nội dung sau khi đề án được phê duyệt như sau:
(i) Đảng ủy xã, phường, đặc khu triển khai các quyết định về kết thúc hoạt động đối với các chi bộ thuộc diện sắp xếp, sáp nhập; quyết định thành lập các chi bộ thôn, tổ dân phố mới; thực hiện việc chuyển giao tổ chức đảng, đảng viên theo quy định, hướng dẫn của Trung ương;
(ii) Ban Thường vụ Đảng ủy xã, phường, đặc khu chỉ định nhân sự chi ủy, bí thư, phó bí thư các chi bộ mới, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện đồng bộ, thống nhất đối với các chi bộ không thuộc diện sắp xếp.
- Chi bộ (chi ủy) thôn, tổ dân phố thuộc diện sắp xếp thực hiện:
(i) Tiến hành rà soát các chỉ tiêu, nhiệm vụ, tổ chức hội nghị chi bộ xây dựng nghị quyết của chi bộ nhiệm kỳ 2025-2030 trên cơ sở nghị quyết của đại hội đảng bộ xã, phường, đặc khu và nghị quyết đại hội của các chi bộ cũ, bảo đảm bám sát với tình hình, điều kiện của thôn, tổ dân phố sau sắp xếp và tổ chức triển khai thực hiện.
(ii) Xây dựng Chương trình hành động cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, quy chế làm việc, chương trình công tác, chương trình kiểm tra giám sát của cấp ủy, chi bộ mới, phân công cấp ủy viên phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị.
Đối với các chi bộ không thuộc diện sắp xếp, ban thường vụ đảng ủy cấp xã rà soát, đánh giá tình hình tổ chức và đội ngũ cán bộ; xây dựng phương án kiện toàn cấp ủy để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới (nếu cần thiết); đồng thời, rà soát, bổ sung quy chế làm việc, chương trình công tác, chương trình kiểm tra giám sát của cấp ủy, chi bộ, phân công cấp ủy viên phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị nhiệm kỳ 2025-2030 (nếu có).
Về công tác nhân sự:
(1) Tiêu chuẩn cấp ủy viên
Trên cơ sở yêu cầu, tiêu chuẩn chung đối với cấp ủy viên theo Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các quy định liên quan; cấp ủy viên cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng; phẩm chất đạo đức, lối sống tốt; gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có uy tín trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; có tinh thần trách nhiệm, khả năng đoàn kết, tập hợp, vận động nhân dân; am hiểu tình hình địa bàn dân cư; hiểu biết về công tác xây dựng Đảng; có khả năng tổ chức các hoạt động cộng đồng dân cư và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trên địa bàn.
- Có trình độ học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên và trình độ lý luận chính trị phù hợp với tình hình thực tiễn.
- Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các nền tảng số phục vụ công tác; đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ở cơ sở.
- Có đủ sức khỏe để tham gia hoạt động cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Nhân sự tham gia cấp ủy chi bộ thôn, tổ dân phố không quá 65 tuổi tại thời điểm chỉ định.
- Đối với những nơi có khó khăn về nguồn nhân sự, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo hoặc những nơi có đặc điểm riêng về tình hình của địa phương, địa bàn dân cư mà chưa bảo đảm tiêu chuẩn về trình độ học vấn hoặc độ tuổi nêu trên thì ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh chỉ đạo ban thường vụ đảng ủy cấp xã xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, uy tín, năng lực, sức khỏe, khả năng dẫn dắt, quy tụ và yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn để từng bước chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ cấp ủy viên.
Về cơ cấu, số lượng cấp ủy:
(1) Về cơ cấu
- Về cơ bản, cấp ủy chi bộ gồm bí thư, phó bí thư và cấp ủy viên. Cấp ủy chi bộ thôn, tổ dân phố được cơ cấu bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa bàn dân cư; ưu tiên lựa chọn những đồng chí đang đảm nhiệm các chức danh chủ chốt ở thôn, tổ dân phố, ban công tác mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội có đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia cấp ủy.
- Việc cơ cấu cấp ủy phải căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, quy mô, đặc điểm địa bàn, số lượng đảng viên và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của từng chi bộ; bảo đảm lựa chọn những đồng chí tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, uy tín, có khả năng lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và tập hợp nhân dân. Không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn cấp ủy viên.
- Khuyến khích thực hiện mô hình bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố hoặc trưởng ban công tác mặt trận; quan tâm cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có trình độ, năng lực, uy tín và triển vọng phát triển tham gia cấp ủy ở những nơi có đủ điều kiện, bảo đảm tính kế thừa, phát triển và từng bước trẻ hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên chi bộ thôn, tổ dân phố.
(2) Về số lượng
- Chi bộ có dưới 9 đảng viên chính thức thì chỉ định bí thư và chỉ định 1 phó bí thư (nếu cần thiết).
- Chi bộ có từ 9 đảng viên chính thức trở lên thì chỉ định bí thư, 1 phó bí thư và chi ủy viên. Chi bộ có đông đảng viên thì chỉ định chi ủy viên không quá 7 đồng chí, bao gồm bí thư và 1 phó bí thư.
(3) Quy trình chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư
Bước 1: Căn cứ quy định, hướng dẫn của Trung ương và tình hình thực tiễn đội ngũ cán bộ, Thường trực đảng ủy cấp xã chỉ đạo Ban xây dựng Đảng tham mưu xây dựng đề án nhân sự, xác định rõ số lượng, cơ cấu, dự kiến nhân sự chi ủy, bí thư, phó bí thư của các chi bộ thành lập mới sau sắp xếp; báo cáo, xin ý kiến của ban thường vụ đảng ủy cấp xã.
Bước 2: Sau khi đề án nhân sự và dự kiến danh sách nhân sự được thông qua, Thường trực đảng ủy cấp xã chủ trì tổ chức hội nghị triển khai quán triệt Đề án thành lập chi bộ thôn, tổ dân phố (mới) và thảo luận lấy ý kiến về đề án nhân sự với sự tham gia của bí thư, phó bí thư chi bộ các thôn, tổ dân phố thuộc diện sắp xếp.
Bước 3: Ban thường vụ đảng ủy cấp xã giao đồng chí đảng ủy viên cấp xã được phân công phụ trách hoặc đại diện lãnh đạo ban xây dựng đảng đảng ủy cấp xã chủ trì tổ chức các hội nghị làm việc với các chi ủy chi bộ (đối với nơi không có chi ủy thì thành phần là bí thư, phó bí thư (nếu có)) thuộc diện sắp xếp, sáp nhập để thảo luận, tham gia ý kiến và biểu quyết nhân sự chi bộ mới sau sắp xếp theo định hướng đề án nhân sự đã được thông qua theo đúng quy định.
Bước 4: Căn cứ kết quả tại bước 3, ban thường vụ đảng ủy cấp xã thảo luận, biểu quyết nhân sự và quyết định chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2025-2030 theo thẩm quyền.
Căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng, quy trình theo quy định và tình hình thực tiễn đội ngũ cán bộ, ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa việc chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2025-2030 theo thẩm quyền, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn, trên cơ sở nguyên tắc như sau:
- Bảo đảm quy định về tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu cấp ủy viên theo hướng hài hòa, hợp lý giữa các thôn, tổ dân phố; không bố trí cơ học, dàn đều giữa các chi bộ cũ trước sắp xếp.
- Trường hợp nhiều đồng chí bảo đảm tiêu chuẩn tham gia cấp ủy thì ưu tiên xem xét giới thiệu, lựa chọn những đồng chí có đủ điều kiện về độ tuổi tham gia cấp ủy trọn nhiệm kỳ, quan tâm nhân sự trẻ, có trình độ, năng lực, uy tín.
Khuyến khích các đồng chí có trình độ lý luận chính trị trung cấp (nhất là bí thư, phó bí thư); có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số; có kinh nghiệm công tác thực tiễn, khả năng điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; có sự am hiểu về cộng đồng dân cư trên địa bàn; bảo đảm tính kế thừa, phát triển và từng bước trẻ hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên chi bộ thôn, tổ dân phố.
6. Kế hoạch số 94-KH/BTGDVTW, ngày 28/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tiếp tục đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số”
Kế hoạch nhằm triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” theo hướng đi vào chiều sâu, thực chất; thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, địa phương, cơ quan, đơn vị. Tập trung tạo chuyển biến rõ nét về năng lực sử dụng các dịch vụ số thiết yếu của người dân và đổi mới phương thức thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trên môi trường số. Đồng thời, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, kỷ luật, kỷ cương trong hành động và kết quả đầu ra thực tế là yếu tố quyết định. Đổi mới phương thức triển khai theo mục tiêu, sản phẩm và kết quả cụ thể; dựa trên dữ liệu và sản phẩm đầu ra.
Về định hướng triển khai, cụ thể gồm:
Một là, gắn kết chặt chẽ Phong trào với nhiệm vụ chuyển đổi số của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” phải bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ và đề án chuyển đổi số đã được phê duyệt ở Trung ương và địa phương; xác định thực hiện Phong trào là giải pháp trực tiếp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về nhận thức, kỹ năng và hành vi của cán bộ, người dân trong quá trình chuyển đổi số. Việc tổ chức thực hiện cần hướng tới hỗ trợ người dân và cán bộ, công chức, viên chức sử dụng hiệu quả các hệ thống, dịch vụ số, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành và phục vụ người dân trên môi trường số.
Hai là, tập trung triển khai Phong trào thực chất từ cấp phường, xã, đặc khu. Trọng tâm triển khai Phong trào đặt tại cấp cơ sở, gắn trực tiếp với nhu cầu sử dụng dịch vụ số của người dân và yêu cầu thực thi công vụ của cán bộ, công chức trên môi trường số. Xây dựng kế hoạch triển khai Phong trào tại cơ sở gắn với nhiệm vụ chuyển đổi số cụ thể để tập trung thực hiện. Kế hoạch phải xác định rõ đối tượng, nội dung, phương thức tổ chức thực hiện và kết quả đầu ra cần đạt; bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, tránh tình trạng triển khai hình thức.
Ba là, tập trung phổ cập kỹ năng sử dụng các dịch vụ số thiết yếu, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Phong trào cần hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực thực hành và khả năng sử dụng hiệu quả các dịch vụ số phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân như sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, khai thác các nền tảng và dịch vụ số phổ biến. Kết quả triển khai Phong trào phải được đánh giá thông qua mức độ tiếp cận, tần suất và hiệu quả sử dụng dịch vụ số của người dân trên địa bàn.
Bốn là, phát huy vai trò nòng cốt của các lực lượng trực tiếp triển khai Phong trào tại cộng đồng.Tổ công nghệ số cộng đồng, học sinh, sinh viên, cơ sở giáo dục và các lực lượng tình nguyện cần được huy động mạnh mẽ tham gia phổ cập kỹ năng số cho người dân. Các lực lượng này đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở, hướng dẫn người dân học tập, thực hành và sử dụng dịch vụ số. Hoạt động phải được tổ chức bài bản, thường xuyên, gắn với nhiệm vụ chuyển đổi số của chính quyền cơ sở và được đánh giá trên cơ sở kết quả hỗ trợ thực tế và mức độ tham gia, sử dụng dịch vụ số của người dân.
Năm là, tăng cường quản lý, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện Phong trào dựa trên dữ liệu.Việc triển khai Phong trào cần gắn với khai thác hiệu quả nền tảng “Bình dân học vụ số”, ứng dụng VNeID và các nền tảng số liên quan để quản lý, thống kê và xác nhận kết quả. Đồng thời, xây dựng và áp dụng bộ chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào thống nhất trên toàn quốc; ưu tiên sử dụng dữ liệu trích xuất từ hệ thống số, nâng cao tính minh bạch, giảm báo cáo thủ công và tạo cơ sở so sánh, đánh giá hiệu quả giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị.
Về tổ chức thực hiện:
Đối với các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo đôn đốc việc triển khai Kế hoạch trong ngành, lĩnh vực, địa bàn được giao; kip thời chỉ đạo xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện; tổng hợp, phân tích các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Kế hoạch; đề xuất các giải pháp để Ban Chỉ đạo xem xét, quyết định, bảo đảm tiến độ và chất lượng thực hiện.
Đối với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương:
Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về Phong trào; xây dựng đề cương tuyên truyền về Phong trào; định hướng các cơ quan báo chí, hệ thống tuyên giáo và dân vận các cấp tăng tin, bài về các mô hình hay, cách làm sáng tạo, gương điển hình “đại sứ số” trong triển khai Phong trào; lan tỏa kết quả triển khai Phong trào trên Hệ thống thông tin Tuyên giáo và Dân vận; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến từng đối tượng đặc thù.
Chủ trì tổng hợp tình hình triển khai Kế hoạch; kịp thời báo cáo và đề xuất với Ban Chỉ đạo các vấn đề phát sinh để xem xét, xử lý; chuẩn bị nội dung và tổ chức các cuộc họp của Ban Chỉ đạo. Chủ trì tham mưu tổ chức tổng kết 2 năm triển khai thực hiện Phong trào theo Kế hoạch số 01-KH/BCÐTW; tham mưu việc biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong triển khai Phong trào.
Chủ trì triển khai Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào Bình dân học vụ số; hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương cập nhật dữ liệu và minh chứng trên hệ thống theo dõi. Phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ việc triển khai Phong trào tại các bộ, ngành, địa phuơng; lấy kết quả đánh giá làm căn cứ xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ và đề xuất khen thưởng, kỷ luật theo quy định.
Đối với các bộ, ngành, cơ quan Trung ương: Tổ chức triển khai các nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch; xây dựng kế hoạch thực hiện trong pham vi quản lý, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Đối với các tỉnh uỷ, thành ủy:
Chỉ đạo xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số” tại địa phương; tổ chức triển khai đồng bộ đến cấp cơ sở.
Tổ chức khai thác, sử dụng hiệu quả các nền tảng “Bình dân học vụ số” trong triển khai Phong trào; bảo đảm điều kiện hạ tầng, thiết bị và tổ chức các hoạt động phổ cập kỹ năng số trên địa bàn. Định kỳ cập nhật dữ liệu và báo cáo kết quả triển khai Phong trào trên hệ thống theo di theo quy định để phục vụ công tác tổng hợp, đánh giá. Người đứng đầu tỉnh ủy, thành ủy chịu trách nhiệm về kết quả triển khai Phong trào tại địa phương; đưa kết quả triển khai Phong trào vào nội dung kiểm điểm tập thể, cá nhân cuối năm.
7. Thông tư số 14/2026/TT-BNV ngày 29/5/2026 của Bộ Nội vụ, quy định chi tiết việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng
Thông tư gồm 05 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Một số nội dung chủ yếu của Thông tư:
Thông tư số 14/2026/TT-BNV quy định chi tiết việc điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, h và i khoản 1, Điều 1 Nghị định số 162/2026/NĐ-CP hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/7/2026, bao gồm đối tượng đang bị tạm dừng hưởng trước ngày 01/7/2026 mà từ ngày 01/7/2026 trở đi được tiếp tục chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Theo Thông tư, từ ngày 01/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 1, Điều 2 Thông tư này được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026.
Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 x 1,08.
Đối với các nhóm đối tượng nghỉ việc hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/01/1995 sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% mà có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng thấp hơn 3,8 triệu đồng/tháng tiếp tục được điều chỉnh như sau:
Người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% bằng hoặc thấp hơn 3,5 triệu đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng thêm 300.000 đồng/tháng.
Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi được điều chỉnh theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Thông tư này + 300.000 đồng/tháng.
Người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% mà cao hơn 3,5 triệu đồng/tháng nhưng thấp hơn 3,8 triệu đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng lên bằng 3,8 triệu đồng/tháng.
Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = 3,8 triệu đồng/tháng.
Đối tượng đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, trợ cấp phục vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 01/7/2026 thì mức hưởng trợ cấp tuất hằng tháng từ ngày 01/7/2026 được tính theo mức lương cơ sở quy định tại Nghị định số 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
8. Hướng dẫn số 02-HD/TU, ngày 19/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về một số nội dung về việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị trên địa bàn
Hướng dẫn nêu rõ: Nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện thống nhất chủ trương của Bộ Chính trị về đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý hằng quý; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ theo hướng thường xuyên, liên tục, thực chất, gắn với kết quả, sản phẩm đầu ra, hiệu quả thực tiễn và trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; từng bước đưa công tác đánh giá cán bộ từ khâu khó, khâu yếu trở thành khâu trọng yếu trong công tác cán bộ. Kết quả đánh giá hằng quý được theo dõi, cập nhật, tích lũy làm căn cứ quan trọng, quyết định việc đánh giá, xếp loại chất lượng cuối năm và phục vụ công tác cán bộ khi cần thiết.
Thông qua kết quả đánh giá hằng quý để kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ có năng lực nổi trội, tư duy đổi mới, sáng tạo, dám nghị, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời, chấn chỉnh, sàng lọc, thay thế cán bộ hạn chế về năng lực, thiếu trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Về phạm vi đối tượng gồm: (1) Cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý hoặc thuộc diện Thường trực Tỉnh ủy được ủy quyền quản lý (gọi chung là cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; (2) Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngoài đối tượng tại Khoản 1 và một số trường hợp khác.
Về quy trình đánh giá:
- Bước l: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả sản phẩm hằng quý
+ Chậm nhất đến ngày 25 tháng cuối của quý trước, các cá nhân căn cứ vào kế hoạch, chương trình công tác năm, để xây dựng Kế hoạch công tác của cá nhân theo quý (Mẫu số 01). Trong đó, cá nhân xác định sản phẩm/công việc chuẩn theo gợi ý tại Phụ lục 1.
+ Cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ hoặc tổ chức, cá nhân được phân công chịu trách nhiệm tổng hợp, tham mưu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Danh mục sản phẩm/công việc chuẩn; thực hiện việc cập nhật, theo dõi, tích lũy, lưu trữ, hình thành hồ sơ đánh giá cán bộ (theo Mẫu số 02).
- Bước 2: Cá nhân tự chấm điểm, đánh giá và đề xuất mức xếp loại
Cuối mỗi quý, cá nhân tự nhận xét, đánh giá; tự chấm điểm theo tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ đã xác định theo Mẫu số 1 ở Bước l và đề xuất mức xếp loại chất lượng (Mẫu số 03). Riêng, quý II/2026, thì liệt kê tất cả những nhiệm vụ được giao vào Mẫu số 03 (không phải thực hiện lại Mẫu số 01 và Mẫu số 02). Trong đó, nội dung kết quả thực hiện nhiệm vụ tại Mục B Phần I của Mẫu số 03, đề nghị cá nhân tham khảo cách thức chấm điểm tại Phụ lục 2.
- Bước 3: Nhận xét, đánh giá
+ Căn cứ kết quả tự đánh giá, đề xuất mức xếp loại của cá nhân và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tập thể, cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ hoặc tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện tổng hợp, thẩm định và đề xuất mức xếp loại chất lượng đối với cá nhân trình Hội đồng đánh giá, xếp loại của cơ quan, đơn vị, địa phương có ý kiến đáņh giá, xếp loại trước khi trình cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện nhận xét, đánh giá và đề xuất quyết định mức xếp loại.
+ Kết quả đánh giá phải căn cứ vào tiến độ; chất lượng sản phẩm đầu ra, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ; mức độ khó, phức tạp, phạm vi tác động của từng nhiệm vụ được giao. Đối với chất lượng sản phẩm đầu ra và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, phải đánh giá rõ mức độ đáp ứng yêu cầu theo 3 mức: (1) Chủ động tiếp cận, giải quyết hiệu quả vấn đề, có kết quả cụ thể; (2) Cơ bản đáp ứng yêu cầu nhưng còn hạn chế, cần tiếp tục hoàn thiện; (3) Không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Bước 4: Đề nghị xếp loại đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; quyết định xếp loại đối với cán bô lãnh đạo, quản Iý còn lại theo thẩm quyền được phân cấp
Trên cơ sở kết quả thẩm định ở Bước 3, cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện nhận xét, đánh giá và đề xuất/quyết định mức xếp loại theo Điều 11 của Quy định 366. Tuy nhiên, cần xem xét thêm một số nội dung cần lưu ý khi xem xét, quyết định/đề xuất mức xếp loại quy định tại Mục 6 của Hướng dẫn này.
Trên cơ sở kết quả nhận xét, đánh giá, xếp loại ở bước trên, cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ xem xét, cho ý kiến việc điều chuyển, bố trí công tác khác đối với cán bộ có vi phạm, khuyết điểm hoặc không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao (nếu có).
- Bước 5: Hoàn chỉnh hồ sơ, gửi đề nghị xếp loại đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; báo cáo kết quả xếp loại đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý còn lại theo thẩm quyền được phân cấp
+ Đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý hoàn thành trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý và gửi về Ban Tổ chức Tỉnh ủy để tổng hơp. Trình Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá, xếp loại, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (gửi Ban Tổ chức Trung ương) theo quy định trước ngày 05 tháng đầu quý tiếp theo.
+ Đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý gửi hồ sơ đề nghị đánh giá, xếp loại về Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tổ chức Tỉnh ủy) trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý để tổng hợp, báo cáo Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xếp loại theo quy định.
+ Đối với nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý còn lại theo phân cấp các cơ quan, đơn vị, địa phương tổng hợp, báo cáo kết quả xếp loại về Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tổ chức Tỉnh) trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý (theo Mẫu số 04) để tổng hợp, báo cáo kết quả về Ban Tổ chức Trung ương trước ngày 05 tháng đầu quý tiếp theo.
- Hồ sơ đề nghị đánh giá, xếp loại gồm: (1) Văn bản đề nghị của cơ quan, đơn vị, địa phương; (2) Biên bản hội nghị đánh giá, xếp loại; (3) Bản tự đánh giá, chấm điểm và xếp loại của cá nhân (Mẫu số 03); (4) Bảng tổng hợp (cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý tổng hợp đề nghị theo Mẫu số 05; cán bộ thuộc diện cơ quan, đơn vị, địa phương được phân cấp quản lý tổng hợp đề nghị theo Mẫu số 06).
- Bước 6: Thông báo và lưu trữ kết quả
+ Thông báo công khai kết quả đánh giá, xếp loại, làm căn cứ đánh giá, xếp loại cuối năm và phục vụ công tác cán bộ khi có yêu cầu.
+ Hồ sơ được thể hiện bằng văn bản, lưu giữ tại cấp có thẩm quyền quản lý, gồm: (1) Biên bản hội nghị đánh giá, xếp loại; (2) Bản tự đánh giá, chấm điểm và xếp loại của cá nhân (Mẫu số 03); (3) Bảng tổng hợp (cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý tổng hợp đề nghị theo Mẫu số 05; cán bộ thuộc diện cơ quan, đơn vị, địa phương được phân cấp quản lý tổng hợp đề nghị theo Mẫu số 06).
Về sử dụng kết quả xếp loại hằng quý:
- Trường hợp cá nhân có 1 quý trong năm xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ” thì không xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” cả năm.
- Việc xem xét, quyết định xếp loại chất lượng cuối năm được căn cứ theo kết quả đánh giá, xếp loại của từng quý trong năm và kết quả thực hiện nhiệm vụ Quý IV trong năm đó. Trường hợp nhiều cá nhân có đủ điều kiện xem xét xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” cuối năm thì ưu tiên lựa chọn cá nhân có số quý được đề xuất xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” nhiều hơn.
- Thực hiện ngay việc thay thế những cán bộ có kết quả đánh giá, xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ” từ 02 quý liên tiếp trở lên.
9. Kế hoạch số 99-KH/TU, ngày 09/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang thực hiện Kết luận số 236-KL/TW, ngày 15/01/2026 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh An Giang
Kế hoạch nhằm quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 236-KL/TW, ngày 15/01/2026 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới; phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong công tác dân vận, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số; góp phần ngăn ngừa, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Kế hoạch đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp: (1) Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng đối với công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; (2) Tăng cường công tác dân vận của chính quyền, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số; (3) Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng theo hướng bám cơ sở, sát địa bàn, phát huy vai trò các lực lượng trong cộng đồng; (4) Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ cơ sở và cán bộ là người dân tộc thiểu số; (5) Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với chăm lo phát triển toàn diện; (6) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Về tổ chức thực hiện, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị:
(1) Các cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Kết luận số 236-KL/TW của Ban Bí thư và Kế hoạch này; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, điều kiện thực tiễn của từng địa phương, đơn vị xây dựng kế hoạch cụ thể, xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình thực hiện, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Định kỳ hằng năm báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch về Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy); báo cáo đột xuất khi có yêu cầu.
(2) Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tham mưu, đề xuất Hội đồng nhân dân tỉnh rà soát, cụ thể hóa hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh liên q uan đến cơ chế, chính sách về công tác dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; thực hiện tốt hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân và việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với những vấn đề Nhân dân quan tâm.
Chỉ đạo các sở, ngành, ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu nâng cao chất lượng thực thi công vụ, tăng cường đối thoại, giải quyết các vấn đề bức xúc trong Nhân dân nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Tập trung bố trí, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và chính sách dân tộc, chuyển đổi số trong công tác dân vận.
(3) Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa các nội dung của Kết luận số 236-KL/TW và Kế hoạch này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Thực hiện tốt vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân đồng thuận, chung sức, đồng lòng cùng hệ thống chính trị thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách dân tộc và các nhiệm vụ chính trị trên địa bàn tỉnh.
(4) Ban Tổ chức Tỉnh ủy tham mưu cho Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, rà soát quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ cơ sở; bảo đảm cơ cấu hợp lý, chú trọng cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện tốt công tác luân chuyển, đánh giá, chính sách đối với cán bộ công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
(5) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy, các cơ quan, đơn vị có liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Kết luận số 236-KL/TW và Kế hoạch này. Định kỳ tham mưu sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
10. Kế hoạch số 100-KH/TU, ngày 12/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về triển khai thực hiện 04 thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử tỉnh An Giang
Kế hoạch nhắm quán triệt, triển khai thống nhất, đồng bộ và hiệu quả 04 thủ tục hành chính (TTHC) của Đảng trên môi trường điện tử trong toàn Đảng bộ, gồm: (1) Chuyển sinh hoạt đảng chính thức; (2) Chuyển sinh hoạt đảng tạm thời; (3) Thu, nộp đảng phí; (4) Lấy ý kiến nhận xét của chi ủy, cho bộ nơi cư trú đối với đảng viên đang công tác. Quá trình thực hiện bảo đảm chuẩn hóa, số hóa quy trình, hồ sơ, nâng cao tính công khai, minh bạch cho tổ chức đảng và đảng viên. Đồng thời, thường xuyên giám sát, đánh giá hiệu quả giải quyết TTHC; bảo đảm tuyệt đối an toàn, an ninh thông tin và bí mật công tác của Đảng trong toàn bộ quá trình tiếp nhận, xử lý và lưu trữ hồ sơ điện tử.
Về phạm vi triển khai: Triển khai thống nhất tại các tổ chức đảng và đảng viên trên toàn tỉnh (trừ các tổ chức đảng thuộc Đảng ủy Quân sự tỉnh và Đảng ủy Công an tỉnh).
Về đối tượng: Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu giúp việc về công tác tổ chức - cán bộ, Văn phòng cấp ủy; đảng viên chính thức, đảng viên dự bị trên địa bàn tỉnh (trừ đảng viên miễn công tác, sinh hoạt đảng, đảng viên ở nước ngoài và các đảng viên đang sinh hoạt tại các tổ chức đảng trực thuộc Đảng ủy Quân sự tỉnh và Đảng ủy Công an tỉnh); các đơn vị kỹ thuật tham gia bảo đảm hạ tầng, an toàn thông tin và hỗ trợ vận hành hệ thống.
Về nội dung và nhiệm vụ trọng tâm:
(1) Công tác quán triệt, tuyên truyền: Các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt, phổ biến, tuyên truyền và triển khai thực hiện Quy định số 338-QĐ/TW của Ban Bí thư, Kế hoạch số 77-KH/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng, Kế hoạch số 86-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch này thông qua các kỳ sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, các hội nghị liên quan, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của việc thực hiện TTHC trên môi trường điện tử.
(2) Chuẩn bị dữ liệu, hạ tầng và kỹ thuật. Trong đó, rà soát, chuẩn hóa thông tin tổ chức đảng, đảng viên; đối soát dữ liệu đảng viên trên Cơ sở dữ liệu (CSDL) đảng viên 4.0, bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ và đồng bộ với hệ thống thực hiện thủ tục hành chính của Đảng.
Quản trị, cấp phát, kích hoạt tài khoản và phân quyền chặt chẽ, rà soát, bảo đảm các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, đường truyền, thiết bị. Bố trí lực lượng hỗ trợ kỹ thuật để kịp thời xử lý, khắc phục các vấn đề phát sinh.
(3) Đào tạo, tập huấn và hỗ trợ người dùng
Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn cho lực luợng nồng cốt do Trung ương tổ chúc. Tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho cán bộ quản trị hệ thống, cán bộ kỹ thuật và cán bộ hỗ trợ thực hiện TTHC của Đảng tại địa phuơng, bảo đảm đủ năng lực hỗ trợ, xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình triển khai và vận hành hệ thống. Thiết lập các kênh hỗ trợ kỹ thuật và nghiệp vụ (đường dây nóng, hộp thư điện tử, nhóm hỗ trợ trực tuyến); bố trí cán bộ hỗ trợ tại cơ sở trong giai đoạn đầu triển khai trên phạm vi toàn tỉnh.
Duy trì, triển khai hiệu quả “Tổ công nghệ số cộng đồng” để hỗ trợ, hướng dẫn trực tiếp cho đảng viên tại các xã, phường, đặc khu, nhất là đảng viên cao tuổi, đảng viên chưa có thiết bị thông minh.
Về lộ trình thực hiện: Từ ngày 01/7/2026 - 30/11/2026, hoàn thành việc triển khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử trên toàn tỉnh. Bảo đảm 100% các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy hoàn thành việc triển khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử.
Nội dung thực hiện, gồm: (1) Hoàn thành tập huấn đến cấp chi bộ cơ sở; (2) Tập trung rà soát, xử lý dứt điểm các trường hợp sai lệch thông tin đảng viên, thiếu thông tin tài khoản ngân hàng tại các đơn vị; (3) Tổ chức thực hiện TTHC trên môi trường điện tử; đối với các đơn vị đã đủ điều kiện, thực hiện chuyển sang điện tử, tiến tới thay thế hoàn toàn phương thức giấy; (4) Thường xuyên đánh giá tiến độ triển khai, kịp thời nhận diện các đơn vị còn chậm trễ để có phương án hỗ trợ đặc biệt, tháo gỡ khó khăn; (5) Các “Tổ công nghệ số cộng đồng” tại các địa phương hoặc tổ chức Tổ công tác hỗ trợ đặc biệt của tỉnh (nếu cần thiết) xuống trực tiếp các đơn vị đang gặp vướng mắc để “cầm tay chỉ việc” và xử lý kỹ thuật tại chỗ; (6) Tổ chức rà soát, kiểm tra dữ liệu toàn hệ thống, bảo đảm đồng bộ giữa CSDL đảng viên 4.0 và hệ thống TTHC; (7) Truyền thông rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, bảo đảm lan tỏa và thống nhất trong toàn hệ thống chính trị. Từ tháng 12/2026, 04 TTHC được triển khai thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử.
Về tổ chức thực hiện:
(1) Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn tỉnh bảo đảm hạ tầng, an toàn thông tin; xây dựng tài liệu và tổ chức tập huấn toàn tỉnh. Phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy và các ngành, đơn vị, địa phương có liên quan tổng hợp, tham mưu Ban Thuờng vụ Tỉnh ủy báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch triển khai TTHC của Đảng trên môi trường điện tử (hoàn thành trước ngày 30/11/2026) để gửi Văn phòng Trung ương Đảng.
(2) Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì đôn đốc, kiểm tra việc quản lý, chuẩn hóa dữ liệu đảng viên trên CSDL đảng viên 4.0; hướng dẫn các cấp ủy về nghiệp vụ tổ chức đảng, đảng viên thực hiện TTHC của Đảng theo đúng quy định. Khẩn trương rà soát, cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu tổ chức đảng, đảng viên theo hướng dẫn tại Công văn số 20279-CV/VPTW, ngày 22/01/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về hướng dẫn, triền khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử. Định kỳ rà soát, đánh giá dữ liệu đảng viên; chỉ đạo việc làm sạch, cập nhật, hoàn thiện dữ liệu nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và cải cách TTHC của Đảng.
(3) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, thực hiện Quy định số 338-QĐTW của Ban Bí thư, Kế hoạch số 86-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và việc triển khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử; định hướng các cơ quan thông tin, báo chí, truyền thông tổ chức tuyên truyền sâu rộng các nội dung của Kế hoạch này; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện TTHC của Đảng trên môi trường điện tử.
(4) Các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, cụ thể hóa kế hoạch triẻn khai tại địa phương, đơn vị phù hợp; sử dụng thống nhất TTHC của Đảng trên môi trường điện tử theo Kế hoạch này.
Quản lý chặt chẽ tài khoản được cung cấp; chỉ đạo cấp ủy trực thuộc hỗ trợ đối với đảng viên cao tuổi, đảng viên chưa sử dụng điện thoại thông minh; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện TTHC của Đảng ở các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc. Huy động sự hỗ trợ của Tổ Công nghệ số cộng đồng trong việc trực tiếp hướng dẫn cán bộ, đảng viên khai thác, sử dụng các ứng dụng công nghệ số. Chỉ đạo việc tạo lập và khai báo tài khoản ngân hàng cho các tổ chức đảng để thực hiện thu, nộp đảng phí theo hướng dẫn của Văn phòng Tỉnh ủy.
Bố trí cán bộ phụ trách triển khai TTHC của Đảng tại đơn vị tham gia các lớp đào tạo, tập huấn do Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tỉnh ủy tổ chức làm đầu mối hỗ trợ và thúc đẩy triển khai có hiệu quả TTHC và Dịch vụ công trực tuyến của Đảng tại địa phương.
Bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả triển khai tại địa phương, đơn vị mình.
(5) Các cấp ủy, tổ chức đảng, chi bộ trực thuộc và đảng viên
Chi ủy, bí thư chi bộ có trách nhiệm phê duyệt các hồ sơ của đảng viên thuộc tổ chức đảng mình quản lý; hướng dẫn đảng viên sử dụng TTHC của Đảng đúng quy trình, bảo đảm đảng viên sử dụng ứng dụng để thực hiện đủ các TTHC của Đảng; định kỳ báo cáo tình hình triển khai và kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc lên cấp ủy cấp trên.
Các tổ chức đảng, đảng viên có trách nhiệm đăng ký, quản lý tài khoản được cấp; sử dụng ứng dụng TTHC theo đúng mục đích, quy định.
Trong quá trình triển khai, các tổ chức đảng chủ động rà soát, đôn đốc, bảo đảm 100% đảng viên đủ điều kiện tham gia sử dụng TTHC của Đảng trên môi trường điện tử theo lộ trình đề ra. Đảng viên có trách nhiệm cài đặt, đăng ký và sử dụng tài khoản dịnh danh điện tử VNeID mức độ 2 theo quy định của pháp luật để thực hiện TTHC của Đảng trên môi trường điện tử.
11. Công văn số 507-CV/TU, ngày 17/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn
Công văn nêu rõ: Thời gian qua, các cấp ủy đảng, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội phối hợp với lực lượng Công an triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều chủ trương, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy vẫn còn diễn biến phức tạp, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm ngày càng tinh vi, số người nghiện và người sử dụng trái phép ma túy còn nhiều; tinh thần, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống ma túy từng lúc chưa quyết liệt; vai trò, trách nhiệm của một số ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền cơ sở trong phòng, chống ma túy chưa được phát huy đầy đủ; công tác phối hợp liên ngành còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả quản lý người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy chưa cao.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, đồng thời quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Công văn số 573/TTg-KGVX, ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Tháng hành động phòng, chống ma túy, Ngày Quốc tế và Ngày toàn dân phòng, chống ma túy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:
Một là, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Công an, của Tỉnh ủy về phòng, chống và kiểm soát ma túy, trọng tâm là: Kết luận số 132-KL/TW, ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày l6/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy; Nghị quyết số 163/2024/QH15, ngày 27/11/2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030; Nghị quyết số 50/NQ-CP, ngày 13/3/2025 của Chính phủ về ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 163/2024/QH15; Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 03/10/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống ma túy trong tình hình mới.
Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác quán triệt thực hiện ở đơn vị, địa phương mình, triển khai có hiệu quả Tháng hành động phòng, chống ma túy (tháng 6), Ngày Quốc tế và Ngày toàn dân phòng, chống ma túy (ngày 26/6); xác định công tác phòng, chống ma túy là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; đề cao trách nhiệm người đứng đầu; lấy kết quả công tác đấu tranh phòng, chống ma túy, xây dựng địa bàn không ma túy và hiệu quả thực chất tại cơ sở làm tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện, đánh giá, xếp loại cấp ủy, tổ chức đảng hằng năm; đồng thời là tiêu chí để nhận xét, đánh giá cán bộ đảng viên và cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp. Mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy vai trò tiên phong, guơng mẫu trong phòng, chống ma túy; có trách nhiệm tuyên truyền vận động gia đình, người thân và Nhân dân nơi cư trú tham gia thực hiện công tác này.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm ma túy, tác hại, hậu quả do ma túy gây ra, trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội trong phòng ngừa, tố giác, đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy; tổ chức các hoạt động thiết thực hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy. Trong đó: Các cơ quan truyền thông trên địa bàn tỉnh phát huy hơn nữa vai trò công tác thông tin, tuyên truyền, chú ý tăng cường các bài viết, thời lượng tuyên truyền trong Tháng hành động phòng, chống ma túy. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tiếp tục định hướng, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy gắn với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy. Tăng cường nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; kịp thời đấu tranh, phản bác thông tin xấu độc, quan điểm sai trái liên quan đến công tác phòng, chống ma túy; phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, người có uy tín trong cộng đồng tham gia tuyên truyền.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, giao nhiệm vụ các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội tích cực tham gia phối hợp hợp với lực lượng Công an trong quản lý, giáo dục, cảm hóa các đối tượng ma túy tại địa bàn cơ sở; phát huv vai trò của gia đình, khóm, ấp, khu dân cư, tổ chức chính trị - xã hội trong công tác quản lý, giáo dục đối tượng ma túy và quản lý sau cai, thực hiện tốt phương châm quản lý tại cơ sở, từ gia đình và cộng đồng dân cư.
Hai là, Đảng ủy Công an tỉnh, Đảng ủy Quân sự tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các ngành, địa phương liên quan tập trung lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng triển khai có hiệu quả cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm về ma túy trên phạm vi toàn tỉnh từ ngày 01/6/2026 đến ngày 30/6/2026, “đánh mạnh, đánh đúng, đánh trúng” các loại tội phạm về ma túy; đấu tranh, bóc gỡ, triệt xóa tận gốc các đường dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy liên tỉnh, xuyên quốc gia, hoạt động trên không gian mạng; triệt phá các điểm tổ chức, chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy; chặt đứt quan hệ “cung - cầu” ma túy.
Ba là, Đảng ủy Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh lãnh đao, chỉ đạo lực lượng phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy bảo đảm nghiêm minh, đúng quy định pháp luật, chú ý lựa chọn xét xử lưu động một số vụ án về ma túy, góp phần tuyên truyền, răn đe, phòng ngừa chung.
Bốn là, Đảng ủy các xã, phường, đặc khu tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai các giải pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy, đấu tranh, trấn áp mạnh tội phạm về tệ nạn ma túy, quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng; tăng cường dạy nghề, tạo việc làm, hỗ trợ vay vốn, tạo sinh kế ổn định cho người sau cai nghiện ma túy; nhân rộng các mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng hiệu quả, góp phần giảm tái nghiện và bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở.
Giao Đảng ủy Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy, các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công văn này, báo cáo kết quả thực hiện cho Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo quy định.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang
Chỉ thị nêu rõ: Trải qua hơn 65 năm xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Viện kiểm sát nhân dân không ngừng đổi mới, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, góp phần quan trọng xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phục vụ hiệu quả sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước. Tuy nhiên, công tác kiểm sát có mặt còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp; một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của ngành Kiểm sát nhân dân trong hệ thống chính trị...
Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới
Quán triệt sâu sắc, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế hiến định, đặc trưng của hệ thống chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, là một trong những trụ cột bảo vệ công lý, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất.
Viện kiểm sát nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất; thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước, giữ vai trò trung tâm kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp, có trách nhiệm phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa và xử lý vi phạm, tội phạm trong quá trình thực thi quyền lực trong hoạt động tư pháp, kiên quyết chống oan, sai, không để lọt tội phạm, góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời ban hành chủ trương, định hướng lớn về công tác kiểm sát đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và địa phương; bố trí người đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân các cấp tham gia cấp ủy tương xứng với vị trí, chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả cơ chế phối hợp, kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp giữa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan có liên quan; phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với công tác kiểm sát; Viện kiểm sát nhân dân các cấp tăng cường phối hợp với cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để thực hiện hiệu quả quyền giám sát.
Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng Viện kiểm sát nhân dân các cấp phát huy cao nhất vai trò nêu gương, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, kịp thời cụ thể hoá vào các lĩnh vực công tác; chủ động báo cáo, đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền những vấn đề lớn, trọng tâm, đồng thời tích cực tham mưu với cấp uỷ về chủ trương, định hướng công tác kiểm sát và công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan, tổ chức có liên quan, bảo đảm đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả.
Hai là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, thực chất hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại
Đổi mới mạnh mẽ, thực chất nội dung, phương pháp thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp theo hướng quản trị tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, dựa trên chứng cứ số, khoa học dữ liệu, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các lĩnh vực công tác kiểm sát. Phát huy vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ thực chất, hiệu quả quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước và quyền của nhóm yếu thế; thông qua cơ chế tố tụng góp phần khắc phục vi phạm trong quản lý kinh tế - xã hội.
Tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra ngay từ đầu và xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án, bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định truy tố thực sự khách quan, công bằng, đúng pháp luật, dựa trên chứng cứ hợp pháp, vì công lý và lẽ phải. Nâng cao năng lực, kỹ năng tranh tụng, bản lĩnh và tính thuyết phục của kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố tại phiên toà. Thực hiện nhất quán chủ trương kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tội phạm, vừa nghiêm minh, vừa nhân văn, hướng thiện. Quán triệt phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “phòng ngừa là chính” với phát hiện, xử lý kịp thời, khách quan, toàn diện, xem xét, đánh giá trong bối cảnh lịch sử cụ thể, lấy hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc làm căn cứ quan trọng để xử lý phù hợp; bảo vệ người đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không tham nhũng, tiêu cực, không vụ lợi; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người dân, phục vụ kiến tạo phát triển.
Tăng cường kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tư pháp, nhất là trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân. Đổi mới nội dung, phương pháp kiểm sát, có giải pháp căn cơ, đột phá nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án, vụ việc, kiểm sát thi hành án, quản lý tạm giữ, tạm giam, công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và các hoạt động tư pháp khác bảo đảm tuân thủ đúng pháp luật. Tăng cường kiểm sát việc xử lý vật chứng, tài sản trong các giai đoạn tố tụng và nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kịp thời phát hiện và thực hiện hiệu quả quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu phòng ngừa, khắc phục vi phạm từ sớm, từ xa; chủ động kiến nghị hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thượng tôn pháp luật.
Tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp, thúc đẩy hợp tác trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, tội phạm phi truyền thống, tham gia hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế. Phát huy vai trò cơ quan Trung ương về tương trợ tư pháp hình sự; chủ động nghiên cứu, đề xuất đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước, thoả thuận quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ba là, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển hoàn thiện lý luận, thể chế về Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận về Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về tư pháp, công tác kiểm sát và các lĩnh vực liên quan nhằm thể chế hoá đầy đủ, kịp thời các chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp về đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, giải quyết tranh chấp theo các văn kiện, nghị quyết của Đảng, trước hết là Nghị quyết Đại hội XIV; chủ động tham mưu rà soát, hoàn thiện pháp luật nhằm tạo cơ sở vững chắc để xử lý tội phạm, vi phạm; đồng thời, tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, an toàn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực, phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế.
Chủ trì hoặc phối hợp tham gia hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự theo hướng hiện đại, đồng bộ, khả thi, nhanh, gọn, hiệu quả; mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn; chú trọng hoàn thiện chính sách miễn, giảm, hoãn, loại trừ, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số hành vi, loại tội với tiêu chí, điều kiện chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa xử lý nghiêm minh và nhân đạo, khoan hồng, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc và Nhân dân lên trên hết.
Hoàn thiện cơ chế khởi kiện vụ án dân sự, nghiên cứu xây dựng cơ chế khởi kiện vụ án hành chính bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công; đồng thời, nghiên cứu phát triển các cơ chế xử lý phi tố tụng, cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Toà án và cơ chế thu hồi, xử lý tài sản không qua kết tội, bảo đảm giảm thiểu xung đột xã hội, tiết kiệm chi phí tố tụng và chi phí xã hội.
Bốn là, đẩy mạnh xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại
Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong của Viện kiểm sát nhân dân theo chủ trương của Đảng; cơ cấu hợp lý đội ngũ kiểm sát viên; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa các cấp kiểm sát và đối với kiểm sát viên.
Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát vững về chính trị, trong sáng về đạo đức, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, bản lĩnh, chuyên nghiệp, liêm chính, lấy phương châm “Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng, Khiêm tốn” làm chuẩn mực đạo đức và hành động. Chú trọng bồi dưỡng tư duy đổi mới, sáng tạo, năng lực hành động, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nâng cao năng lực chuyển đổi số, tham gia và xử lý các vấn đề pháp lý quốc tế. Đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, cán bộ lãnh đạo, quản lý thực sự tiêu biểu, có tư duy phát triển, năng lực quản trị tiên tiến, đáp ứng yêu cầu tổ chức bộ máy và mục tiêu phát triển của đất nước. Tăng cường thực hiện và chịu trách nhiệm trong kiểm soát nội bộ, kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, kiên trì thực hành văn hoá liêm chính; chủ động phòng ngừa, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vi phạm pháp luật và kỷ luật đảng trong toàn ngành Kiểm sát nhân dân.
Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực kiểm sát đáp ứng yêu cầu “chuyên nghiệp - hiện đại - hội nhập”; phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài; xây dựng Trường Đại học Kiểm sát theo hướng chuẩn hoá, hiện đại, đạt chuẩn khu vực và quốc tế, đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ kiểm sát viên trong thực thi công vụ theo quy định của Đảng, Nhà nước, bảo đảm an toàn nghề nghiệp, phòng ngừa và ngăn chặn tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến yêu cầu khách quan trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Năm là, bảo đảm nguồn lực, hiện đại hóa Viện kiểm sát nhân dân
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức và bảo đảm điều kiện hoạt động để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bảo đảm kinh phí, chế độ, chính sách, các điều kiện cần thiết khác từ ngân sách trung ương và nguồn hỗ trợ từ ngân sách địa phương để hiện đại hoá Viện kiểm sát nhân dân. Xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân hiện đại trên nền tảng số, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và dữ liệu lớn trong quản lý, điều hành hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; từng bước hình thành hệ sinh thái tư pháp số, thực hiện số hoá toàn trình các quy trình nghiệp vụ, triển khai các nền tảng số hiện đại, kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan tư pháp và cơ quan liên quan trên cơ sở nền tảng dùng chung; chú trọng bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác trong môi trường số. Nâng cao năng lực phân tích, khai thác dữ liệu số để đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất chính sách, giải pháp phòng, chống tội phạm kịp thời, hiệu quả. Mở rộng các tiện ích số, tăng cường thông tin, tuyên truyền về Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát nhân dân trong tình hình mới.
Bộ Chính trị đề nghị các ban đảng Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tổ chức phổ biến, quán triệt, thống nhất về nhận thức và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ. Trong đó, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Đảng ủy Công an Trung ương; Quân ủy Trung ương; Đảng ủy Toà án nhân dân tối cao và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ theo quy định, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong Chỉ thị. Đảng uỷ Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan liên quan tham mưu giúp Bộ Chính trị hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị.
Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ.
2. Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Về quan điểm chỉ đạo, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nội dung sau:
Một là, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Hai là, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu; đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Ba là, chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng... làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Bốn là, phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, dữ liệu, năng lượng; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài hình thành trụ sở khu vực và các trung tâm điều hành, nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ của khu vực.
Năm là, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo cao, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu. Bảo đảm cơ chế đối thoại, tiếp nhận, xử lý kịp thời kiến nghị, khiếu nại trên nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa các bên; xử lý tranh chấp đầu tư theo quy định của pháp luật; khuyến khích các bên tự hòa giải, thông qua cơ chế hòa giải thương mại và trọng tài thương mại.
Sáu là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia; phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trên cơ sở thống nhất chiến lược, quy hoạch, tiêu chí, cơ chế giám sát; lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.
Về mục tiêu tổng quát: Đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.
Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết nêu rõ: Đến năm 2030, phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Giai đoạn 2026-2030: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm). 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung, trong đó có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam; thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I. Tỷ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%; nâng cao rõ rệt tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành, chuỗi cung ứng trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái, bao gồm chuyển đổi và thành lập mới chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước. Phấn đấu trước năm 2030, thị trường chứng khoán được tổ chức xếp hạng thị trường MSCI nâng hạng.
Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo, điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở châu Á, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; thị trường vốn phát triển hiện đại, minh bạch, an toàn, tiệm cận thông lệ quốc tế. Phấn đấu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Nghị quyết đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp, cụ thể: (1) Nhóm nhiệm vụ chung gồm đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài; nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư chiến lược; (2) Đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, địa bàn; (3) Thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa, liên kết với khu vực kinh tế trong nước; (4) Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; (5) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; (6) Hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư gián tiếp nước ngoài; (7) Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan có liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
3. Kết luận số 40-KL/TW, ngày 02/6/2026 của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung Quy định về quản lý biên chế của hệ thống chính trị; giao biên chế của hệ thống chính trị năm 2026 và định hướng giai đoạn 2027-2031
Kết luận nêu rõ: Về nội dung bổ sung, sửa đổi Quy định của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị (thay thế Quy định số 70-QĐ/TW) và Quyết định giao biên chế năm 2026: Cơ bản thống nhất với nội dung nêu tại Tờ trình số 38-TTr/BTCTW và Tờ trình số 39-TTr/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Giao Ban Tổ chức Trung ương tiếp thu ý kiến Bộ Chính trị để bổ sung, hoàn thiện dự thảo Quy định về quản lý biên chế và Quyết định giao biên chế năm 2026 của hệ thống chính trị, rà soát kỹ số liệu, bảo đảm chính xác, trình đồng chí Thường trực Ban Bí thư xem xét, ban hành.
Về định hướng giao biên chế giai đoạn 2027- 2031, cụ thể như sau:
Một là, tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế của hệ thống chính trị (khoảng từ 5-10%) trên cơ sở kế hoạch, lộ trình, cam kết trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương trong việc thực hiện phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, áp dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, ứng dụng phương pháp quản trị, quản lý mới, cải cách thủ tục hành chính, tinh giản quy trình công việc, giảm khâu trung gian trong tác nghiệp, sắp xếp tinh gọn tổ chức bên trong, sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, giảm số lượng lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, tổ chức làm cơ sở xây dựng lộ trình giảm biên chế, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng và chuẩn hóa cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ xã, phường, đặc khu và nâng cao năng suất lao động, giảm giờ làm, cải cách chính sách tiền lương khu vực công.
Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới định mức biên chế; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và liên thông từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp xã bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, liên thông, dùng chung”; trong đó, có cơ sở dữ liệu quốc gia về biên chế, cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Ba là, đẩy mạnh phân cấp quản lý biên chế cho các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương. Thực hiện rà soát định kỳ hằng năm để kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp tình hình thực tế; thu hồi, điều chuyển biên chế đồng bộ với lộ trình thực hiện phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, cải cách hành chính và chuyển biên chế từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi thiểu hụt, quá tải.
Bốn là, áp dụng phương pháp quản trị theo dữ liệu, lượng hóa công việc để xác định nhu cầu biên chế thực tế. Chuyển từ quản lý số lượng biên chế sang quản lý chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ; định kỳ đánh giá cán bộ bằng các chỉ số được lượng hoá, đưa ra khỏi hệ thống những người không đủ năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ để thực hiện tuyển dụng công chức, viên chức đủ trình độ, năng lực vào bộ máy.
Về tổ chức thực hiện:
Thứ nhất, giao ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; tập thể lãnh đạo ban, cơ quan, đơn vị ở Trung ương, ban thường vụ các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế; ban thường vụ đảng ủy bộ, cơ quan ngang bộ lãnh đạo, chỉ đạo việc giao, quản lý biên chế năm 2026 theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, có kế hoạch bố trí, sắp xếp chuyển ngạch để bảo đảm đủ số lượng công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan, đơn vị, không để tình trạng viên chức thực hiện vị trí việc làm của công chức, chủ động rà soát, điều chỉnh cơ cấu, số lượng phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, nhất là các cơ quan, đơn vị, địa phương thiếu vị trí chuyên môn cần phải bổ sung kịp thời.
Đối với những nơi có số công chức, viên chức có mặt lớn hơn số biên chế được giao năm 2026 phải khẩn trương xây dựng kế hoạch, giải pháp, lộ trình phù hợp, khả thi nhằm từng bước sắp xếp, điều chỉnh để đến hết năm 2026 phải đưa về đúng số biên chế được Bộ Chính trị giao. Đối với các thành phố lớn, đô thị đặc biệt (như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) được Bộ Chính trị quyết định cơ chế đặc thù về quản lý, sử dụng biên chế thì thực hiện theo chủ trương, kết luận của Bộ Chính trị. Các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng biên chế Bộ Chính trị giao theo đúng vị trí việc làm công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.
Thứ hai, giao Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo việc thể chế hóa, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện nghiêm các nhiệm vụ, giải pháp, định hướng xác định, giao biên chế giai đoạn 2027-2031; lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc theo chức năng, nhiệm vụ khẩn trương xây dựng định mức biên chế, số lượng người làm việc, cơ cấu công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị, ngành, lĩnh vực trên cơ sở lượng hóa kết quả chuyển đổi số, cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, phân loại đơn vị hành chính; dân số, diện tích, GRDP; chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phân loại cơ quan, đơn vị; khối lượng công việc; đặc thù ngành, lĩnh vực, địa phương... để làm cơ sở đề xuất, xác định, giao biên chế giai đoạn 2027-2031 (hoàn thành trước ngày 15/9/2026).
Thứ ba, giao Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu một cách toàn diện và đề xuất đổi mới công tác quản lý và giao biên chế của hệ thống chính trị nhằm bảo đảm hiệu quả thực chất, đồng bộ với chủ trương, chính sách của Đảng về đề án vị trí việc làm và đề án tiền lương. Trong đó quán triệt một số yêu cầu sau:
Đổi mới căn bản tư duy, nhận thức, phương pháp xác định biên chế của hệ thống chính trị; chuyển từ tư duy cố định, dài hạn sang theo chu kỳ 3 năm để điều chỉnh phù hợp; xác định biên chế bảo đảm khoa học, khách quan, theo định mức, tiêu chí, tiêu chuẩn rõ ràng, phù hợp thực tiễn; giải quyết cơ bản các hạn chế, bất cập từ nhiều nhiệm kỳ.
Giao biên chế phải gắn chặt với đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm và kết quả đầu ra cụ thể, những công việc có thể số hóa, tự động hóa, xã hội hóa thì kiên quyết giảm biên chế hành chính giản đơn để tăng cường cho các lĩnh vực then chốt, trong đó ưu tiên các nhiệm vụ chiến luợc, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế số và các địa phương trọng điểm, cực phát triển gắn với thực hiện các chỉ tiêu phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, bảo đảm tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị 3 cấp tinh gọn, họat động thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia, quản trị địa phương, phục vụ người dân, doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu phát triển và tăng trưởng “2 con số” của đất nước trong giai đoạn mới.
Công tác quản lý biên chế phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Phải chuyển mạnh tư duy “quản lý biên chế” sang “quản trị nguồn nhân lực quốc gia phục vụ phát triển đất nước” với mục tiêu quản lý và sử dụng hiệu quả từng biên chế được giao. Xác định tổng biên chế của hệ thống chính trị có cơ cấu hợp lý; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có chất lượng cao, được quản lý chặt chẽ, hiệu quả.
Không để tình trạng nơi thiếu người làm việc thì không được bổ sung, trong khi nơi hiệu quả thấp vẫn giữ biên chế ổn định. Phải có cơ chế mạnh hơn để sàng lọc, thay thế người không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thực hiện đúng nguyên tắc “có vào - có ra” đối với biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước, không để tình trạng vào biên chế là ổn định suốt đời.
Đặc biệt, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “xin biên chế”, “giữ ghế”, “giữ cơ cầu” vì lợi ích cục bộ. Từng bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương rà soát kỹ lưỡng, thực hiện sắp xếp tổ chức bên trong, bảo đảm lược bỏ các khâu trung gian, bộ phận hoạt động hình thức, năng suất thấp. Đẩy mạnh chuyển giao các nhiệm vụ và dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm. Nghiên cứu tạo bước đột phá trong việc tinh giản biên chế sự nghiệp gắn với đẩy mạnh tự chủ các đơn vị sự nghiệp công lập; tăng cường xã hội hóa những công việc, dịch vụ mà khu vực tư nhân có thể thực hiện tốt, nhất là lĩnh vực giáo dục, y tế. Cân đối, phù hợp với kế hoạch ngân sách trung hạn; tăng cường tiết kiệm chi thường xuyên, giảm tỷ trọng chi hoạt động của bộ máy trong tổng chi ngân sách nhà nước, tăng thu nhập, tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ tư, giao Ban Tổ chức Trung ương tiếp thu ý kiến Bộ Chính trị và chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu kỹ lưỡng, đổi mới toàn diện để xây dụng phương án giao biên chế giai đoạn 2027-2031 thật sự khoa học với những định mức, tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng đến từng vị trí việc làm; gắn với hoàn thiện các quy định về quản lý, sử dụng biên chế một cách hiệu quả, thực chất, báo cáo Bộ Chính trị vào cuối quý IV/2026.
4. Quy định số 183-QĐ/TW, ngày 02/6/2026 của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị
Quy định 183-QĐ/TW Quy định có 3 chương, 9 điều khoản thi hành; quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác quản lý biên chế cán bộ, công chức, biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước; số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập của hệ thống chính trị (gọi tắt là các đơn vị sự nghiệp công lập), số người làm việc tại các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong hệ thống chính trị.
Về nguyên tắc quản lý biên chế, Bộ Chính trị lãnh đạo, chỉ đạo quản lý biên chế, quản lý số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện trách nhiệm quản lý biên chế, quản lý số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tổng biên chế của hệ thống chính trị được quyết định theo nhiệm kỳ 5 năm và khi cần thiết.
Giao chỉ tiêu biên chế, số người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một phần do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định trong tháng 10 hằng năm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm, quy mô, tính chất quan trọng, yếu tố đặc thù của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan, đơn vị; tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách hành chính, cải cách chính sách tiền lương. Khuyến khích thực hiện cơ chế khoán biên chế gắn với khoán quỹ lương cho các cơ quan, đơn vị.
Tăng cường phân cấp, phân quyền, nêu cao trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu trong công tác quản lý, sử dụng biên chế. Chỉ thực hiện xem xét tăng chỉ tiêu biên chế khi được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định thành lập tổ chức mới, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, tăng quy mô, khối lượng công việc gắn với vị trí việc làm hoặc thiếu biên chế so với định mức quy định; thực hiện giảm biên chế theo quy định hoặc khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định kết thúc hoạt động, giải thể tổ chức, giảm chức năng, nhiệm vụ, đơn vị sự nghiệp công lập tăng mức độ tự chủ tài chính.
Quy định cũng nêu rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác quản lý biên chế gồm: Bộ Chính trị; Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế; Các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế; Các cơ quan, tổ chức trực thuộc Trung ương, ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị ở Trung ương.
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký, thay thế Quy định số 70-QĐ/TW, ngày 18/7/2022 về việc ban hành Quy định của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị.
5. Hướng dẫn số 03-HD/BTCTW, ngày 20/6/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về sắp xếp, thành lập tổ chức đảng ở thôn, tổ dân phố
Về mục đích, yêu cầu: Hướng dẫn nhằm sắp xếp, thành lập tổ chức đảng phải đồng bộ, thống nhất và tương ứng với việc sắp xếp, thành lập thôn, tổ dân phố, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và thực tiễn của từng địa phương nhằm góp phần tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Thành lập tổ chức đảng và xây dựng phương án nhân sự ở thôn, tổ dân phố sau sắp xếp là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt theo đúng tiến độ, yêu cầu đề ra; phát huy dân chủ đi đôi với đề cao trách nhiệm của cấp ủy, chi bộ và cán bộ, đảng viên trên cơ sở khách quan, minh bạch, đoàn kết, thống nhất và đồng thuận sau sắp xếp; kiên quyết khắc phục tư tưởng cá nhân, cục bộ, địa phương, “lợi ích nhóm”, thiếu tính xây dựng.
Công tác nhân sự phải thực hiện theo đúng quy định của Đảng, Nhà nước, bảo đảm cơ cấu độ tuổi hợp lý, hài hòa giữa tính kế thừa và yêu cầu trẻ hóa đội ngũ cán bộ. Nhân sự được lựa chọn phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, trong đó đặc biệt coi trọng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, uy tín, sức khỏe, tinh thần trách nhiệm, trình độ, năng lực lãnh đạo, khả năng quy tụ, vận động quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tập trung vào đối tượng trẻ, có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có năng lực quản trị, trình độ khoa học công nghệ, chuyển đổi số; quan tâm ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, những nơi có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh-quốc phòng.
Về việc sắp xếp, thành lập tổ chức Đảng ở thôn, tổ dân phố sau sắp xếp:
(1) Về tên gọi
Tên gọi của các chi bộ thôn, tổ dân phố mới lấy theo tên gọi trong nghị quyết của hội đồng nhân dân xã, phường hoặc quyết định của ủy ban nhân dân đặc khu về sắp xếp, thành lập thôn, tổ dân phố. Đối với các thôn, tổ dân phố không thuộc diện sắp xếp nhưng có thay đổi về tên gọi thì ban hành quyết định đổi tên chi bộ.
(2) Về nhiệm kỳ
Thống nhất thực hiện thí điểm nhiệm kỳ của chi bộ thôn, tổ dân phố là 5 năm, áp dụng đối với cả chi bộ mới thành lập sau sắp xếp và chi bộ không thuộc diện sắp xếp; thời gian nhiệm kỳ tính theo thời gian nhiệm kỳ của cấp ủy cấp trên trực tiếp là nhiệm kỳ 2025-2030.
(3) Về trách nhiệm của cấp ủy các cấp
- Các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương trên cơ sở chủ trương sắp xếp, thành lập thôn, tổ dân phố lãnh đạo, chỉ đạo các đảng ủy xã, phường, đặc khu xây dựng đề án về sắp xếp, thành lập mới các chi bộ và đề án nhân sự (bao gồm chi ủy, bí thư, phó bí thư),
- Đảng ủy xã, phường, đặc khu tổ chức triển khai và hoàn thành một số nội dung sau khi đề án được phê duyệt như sau:
(i) Đảng ủy xã, phường, đặc khu triển khai các quyết định về kết thúc hoạt động đối với các chi bộ thuộc diện sắp xếp, sáp nhập; quyết định thành lập các chi bộ thôn, tổ dân phố mới; thực hiện việc chuyển giao tổ chức đảng, đảng viên theo quy định, hướng dẫn của Trung ương;
(ii) Ban Thường vụ Đảng ủy xã, phường, đặc khu chỉ định nhân sự chi ủy, bí thư, phó bí thư các chi bộ mới, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện đồng bộ, thống nhất đối với các chi bộ không thuộc diện sắp xếp.
- Chi bộ (chi ủy) thôn, tổ dân phố thuộc diện sắp xếp thực hiện:
(i) Tiến hành rà soát các chỉ tiêu, nhiệm vụ, tổ chức hội nghị chi bộ xây dựng nghị quyết của chi bộ nhiệm kỳ 2025-2030 trên cơ sở nghị quyết của đại hội đảng bộ xã, phường, đặc khu và nghị quyết đại hội của các chi bộ cũ, bảo đảm bám sát với tình hình, điều kiện của thôn, tổ dân phố sau sắp xếp và tổ chức triển khai thực hiện.
(ii) Xây dựng Chương trình hành động cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, quy chế làm việc, chương trình công tác, chương trình kiểm tra giám sát của cấp ủy, chi bộ mới, phân công cấp ủy viên phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị.
Đối với các chi bộ không thuộc diện sắp xếp, ban thường vụ đảng ủy cấp xã rà soát, đánh giá tình hình tổ chức và đội ngũ cán bộ; xây dựng phương án kiện toàn cấp ủy để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới (nếu cần thiết); đồng thời, rà soát, bổ sung quy chế làm việc, chương trình công tác, chương trình kiểm tra giám sát của cấp ủy, chi bộ, phân công cấp ủy viên phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị nhiệm kỳ 2025-2030 (nếu có).
Về công tác nhân sự:
(1) Tiêu chuẩn cấp ủy viên
Trên cơ sở yêu cầu, tiêu chuẩn chung đối với cấp ủy viên theo Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các quy định liên quan; cấp ủy viên cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng; phẩm chất đạo đức, lối sống tốt; gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có uy tín trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; có tinh thần trách nhiệm, khả năng đoàn kết, tập hợp, vận động nhân dân; am hiểu tình hình địa bàn dân cư; hiểu biết về công tác xây dựng Đảng; có khả năng tổ chức các hoạt động cộng đồng dân cư và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trên địa bàn.
- Có trình độ học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên và trình độ lý luận chính trị phù hợp với tình hình thực tiễn.
- Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các nền tảng số phục vụ công tác; đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ở cơ sở.
- Có đủ sức khỏe để tham gia hoạt động cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Nhân sự tham gia cấp ủy chi bộ thôn, tổ dân phố không quá 65 tuổi tại thời điểm chỉ định.
- Đối với những nơi có khó khăn về nguồn nhân sự, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo hoặc những nơi có đặc điểm riêng về tình hình của địa phương, địa bàn dân cư mà chưa bảo đảm tiêu chuẩn về trình độ học vấn hoặc độ tuổi nêu trên thì ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh chỉ đạo ban thường vụ đảng ủy cấp xã xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, uy tín, năng lực, sức khỏe, khả năng dẫn dắt, quy tụ và yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn để từng bước chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ cấp ủy viên.
Về cơ cấu, số lượng cấp ủy:
(1) Về cơ cấu
- Về cơ bản, cấp ủy chi bộ gồm bí thư, phó bí thư và cấp ủy viên. Cấp ủy chi bộ thôn, tổ dân phố được cơ cấu bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa bàn dân cư; ưu tiên lựa chọn những đồng chí đang đảm nhiệm các chức danh chủ chốt ở thôn, tổ dân phố, ban công tác mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội có đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia cấp ủy.
- Việc cơ cấu cấp ủy phải căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, quy mô, đặc điểm địa bàn, số lượng đảng viên và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của từng chi bộ; bảo đảm lựa chọn những đồng chí tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, uy tín, có khả năng lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và tập hợp nhân dân. Không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn cấp ủy viên.
- Khuyến khích thực hiện mô hình bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố hoặc trưởng ban công tác mặt trận; quan tâm cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có trình độ, năng lực, uy tín và triển vọng phát triển tham gia cấp ủy ở những nơi có đủ điều kiện, bảo đảm tính kế thừa, phát triển và từng bước trẻ hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên chi bộ thôn, tổ dân phố.
(2) Về số lượng
- Chi bộ có dưới 9 đảng viên chính thức thì chỉ định bí thư và chỉ định 1 phó bí thư (nếu cần thiết).
- Chi bộ có từ 9 đảng viên chính thức trở lên thì chỉ định bí thư, 1 phó bí thư và chi ủy viên. Chi bộ có đông đảng viên thì chỉ định chi ủy viên không quá 7 đồng chí, bao gồm bí thư và 1 phó bí thư.
(3) Quy trình chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư
Bước 1: Căn cứ quy định, hướng dẫn của Trung ương và tình hình thực tiễn đội ngũ cán bộ, Thường trực đảng ủy cấp xã chỉ đạo Ban xây dựng Đảng tham mưu xây dựng đề án nhân sự, xác định rõ số lượng, cơ cấu, dự kiến nhân sự chi ủy, bí thư, phó bí thư của các chi bộ thành lập mới sau sắp xếp; báo cáo, xin ý kiến của ban thường vụ đảng ủy cấp xã.
Bước 2: Sau khi đề án nhân sự và dự kiến danh sách nhân sự được thông qua, Thường trực đảng ủy cấp xã chủ trì tổ chức hội nghị triển khai quán triệt Đề án thành lập chi bộ thôn, tổ dân phố (mới) và thảo luận lấy ý kiến về đề án nhân sự với sự tham gia của bí thư, phó bí thư chi bộ các thôn, tổ dân phố thuộc diện sắp xếp.
Bước 3: Ban thường vụ đảng ủy cấp xã giao đồng chí đảng ủy viên cấp xã được phân công phụ trách hoặc đại diện lãnh đạo ban xây dựng đảng đảng ủy cấp xã chủ trì tổ chức các hội nghị làm việc với các chi ủy chi bộ (đối với nơi không có chi ủy thì thành phần là bí thư, phó bí thư (nếu có)) thuộc diện sắp xếp, sáp nhập để thảo luận, tham gia ý kiến và biểu quyết nhân sự chi bộ mới sau sắp xếp theo định hướng đề án nhân sự đã được thông qua theo đúng quy định.
Bước 4: Căn cứ kết quả tại bước 3, ban thường vụ đảng ủy cấp xã thảo luận, biểu quyết nhân sự và quyết định chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2025-2030 theo thẩm quyền.
Căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng, quy trình theo quy định và tình hình thực tiễn đội ngũ cán bộ, ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa việc chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2025-2030 theo thẩm quyền, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn, trên cơ sở nguyên tắc như sau:
- Bảo đảm quy định về tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu cấp ủy viên theo hướng hài hòa, hợp lý giữa các thôn, tổ dân phố; không bố trí cơ học, dàn đều giữa các chi bộ cũ trước sắp xếp.
- Trường hợp nhiều đồng chí bảo đảm tiêu chuẩn tham gia cấp ủy thì ưu tiên xem xét giới thiệu, lựa chọn những đồng chí có đủ điều kiện về độ tuổi tham gia cấp ủy trọn nhiệm kỳ, quan tâm nhân sự trẻ, có trình độ, năng lực, uy tín.
Khuyến khích các đồng chí có trình độ lý luận chính trị trung cấp (nhất là bí thư, phó bí thư); có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số; có kinh nghiệm công tác thực tiễn, khả năng điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; có sự am hiểu về cộng đồng dân cư trên địa bàn; bảo đảm tính kế thừa, phát triển và từng bước trẻ hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên chi bộ thôn, tổ dân phố.
6. Kế hoạch số 94-KH/BTGDVTW, ngày 28/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tiếp tục đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số”
Kế hoạch nhằm triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” theo hướng đi vào chiều sâu, thực chất; thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, địa phương, cơ quan, đơn vị. Tập trung tạo chuyển biến rõ nét về năng lực sử dụng các dịch vụ số thiết yếu của người dân và đổi mới phương thức thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trên môi trường số. Đồng thời, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, kỷ luật, kỷ cương trong hành động và kết quả đầu ra thực tế là yếu tố quyết định. Đổi mới phương thức triển khai theo mục tiêu, sản phẩm và kết quả cụ thể; dựa trên dữ liệu và sản phẩm đầu ra.
Về định hướng triển khai, cụ thể gồm:
Một là, gắn kết chặt chẽ Phong trào với nhiệm vụ chuyển đổi số của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” phải bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ và đề án chuyển đổi số đã được phê duyệt ở Trung ương và địa phương; xác định thực hiện Phong trào là giải pháp trực tiếp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về nhận thức, kỹ năng và hành vi của cán bộ, người dân trong quá trình chuyển đổi số. Việc tổ chức thực hiện cần hướng tới hỗ trợ người dân và cán bộ, công chức, viên chức sử dụng hiệu quả các hệ thống, dịch vụ số, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành và phục vụ người dân trên môi trường số.
Hai là, tập trung triển khai Phong trào thực chất từ cấp phường, xã, đặc khu. Trọng tâm triển khai Phong trào đặt tại cấp cơ sở, gắn trực tiếp với nhu cầu sử dụng dịch vụ số của người dân và yêu cầu thực thi công vụ của cán bộ, công chức trên môi trường số. Xây dựng kế hoạch triển khai Phong trào tại cơ sở gắn với nhiệm vụ chuyển đổi số cụ thể để tập trung thực hiện. Kế hoạch phải xác định rõ đối tượng, nội dung, phương thức tổ chức thực hiện và kết quả đầu ra cần đạt; bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, tránh tình trạng triển khai hình thức.
Ba là, tập trung phổ cập kỹ năng sử dụng các dịch vụ số thiết yếu, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Phong trào cần hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực thực hành và khả năng sử dụng hiệu quả các dịch vụ số phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân như sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, khai thác các nền tảng và dịch vụ số phổ biến. Kết quả triển khai Phong trào phải được đánh giá thông qua mức độ tiếp cận, tần suất và hiệu quả sử dụng dịch vụ số của người dân trên địa bàn.
Bốn là, phát huy vai trò nòng cốt của các lực lượng trực tiếp triển khai Phong trào tại cộng đồng.Tổ công nghệ số cộng đồng, học sinh, sinh viên, cơ sở giáo dục và các lực lượng tình nguyện cần được huy động mạnh mẽ tham gia phổ cập kỹ năng số cho người dân. Các lực lượng này đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở, hướng dẫn người dân học tập, thực hành và sử dụng dịch vụ số. Hoạt động phải được tổ chức bài bản, thường xuyên, gắn với nhiệm vụ chuyển đổi số của chính quyền cơ sở và được đánh giá trên cơ sở kết quả hỗ trợ thực tế và mức độ tham gia, sử dụng dịch vụ số của người dân.
Năm là, tăng cường quản lý, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện Phong trào dựa trên dữ liệu.Việc triển khai Phong trào cần gắn với khai thác hiệu quả nền tảng “Bình dân học vụ số”, ứng dụng VNeID và các nền tảng số liên quan để quản lý, thống kê và xác nhận kết quả. Đồng thời, xây dựng và áp dụng bộ chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào thống nhất trên toàn quốc; ưu tiên sử dụng dữ liệu trích xuất từ hệ thống số, nâng cao tính minh bạch, giảm báo cáo thủ công và tạo cơ sở so sánh, đánh giá hiệu quả giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị.
Về tổ chức thực hiện:
Đối với các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo đôn đốc việc triển khai Kế hoạch trong ngành, lĩnh vực, địa bàn được giao; kip thời chỉ đạo xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện; tổng hợp, phân tích các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Kế hoạch; đề xuất các giải pháp để Ban Chỉ đạo xem xét, quyết định, bảo đảm tiến độ và chất lượng thực hiện.
Đối với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương:
Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về Phong trào; xây dựng đề cương tuyên truyền về Phong trào; định hướng các cơ quan báo chí, hệ thống tuyên giáo và dân vận các cấp tăng tin, bài về các mô hình hay, cách làm sáng tạo, gương điển hình “đại sứ số” trong triển khai Phong trào; lan tỏa kết quả triển khai Phong trào trên Hệ thống thông tin Tuyên giáo và Dân vận; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến từng đối tượng đặc thù.
Chủ trì tổng hợp tình hình triển khai Kế hoạch; kịp thời báo cáo và đề xuất với Ban Chỉ đạo các vấn đề phát sinh để xem xét, xử lý; chuẩn bị nội dung và tổ chức các cuộc họp của Ban Chỉ đạo. Chủ trì tham mưu tổ chức tổng kết 2 năm triển khai thực hiện Phong trào theo Kế hoạch số 01-KH/BCÐTW; tham mưu việc biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong triển khai Phong trào.
Chủ trì triển khai Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào Bình dân học vụ số; hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương cập nhật dữ liệu và minh chứng trên hệ thống theo dõi. Phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ việc triển khai Phong trào tại các bộ, ngành, địa phuơng; lấy kết quả đánh giá làm căn cứ xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ và đề xuất khen thưởng, kỷ luật theo quy định.
Đối với các bộ, ngành, cơ quan Trung ương: Tổ chức triển khai các nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch; xây dựng kế hoạch thực hiện trong pham vi quản lý, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Đối với các tỉnh uỷ, thành ủy:
Chỉ đạo xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số” tại địa phương; tổ chức triển khai đồng bộ đến cấp cơ sở.
Tổ chức khai thác, sử dụng hiệu quả các nền tảng “Bình dân học vụ số” trong triển khai Phong trào; bảo đảm điều kiện hạ tầng, thiết bị và tổ chức các hoạt động phổ cập kỹ năng số trên địa bàn. Định kỳ cập nhật dữ liệu và báo cáo kết quả triển khai Phong trào trên hệ thống theo di theo quy định để phục vụ công tác tổng hợp, đánh giá. Người đứng đầu tỉnh ủy, thành ủy chịu trách nhiệm về kết quả triển khai Phong trào tại địa phương; đưa kết quả triển khai Phong trào vào nội dung kiểm điểm tập thể, cá nhân cuối năm.
7. Thông tư số 14/2026/TT-BNV ngày 29/5/2026 của Bộ Nội vụ, quy định chi tiết việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng
Thông tư gồm 05 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Một số nội dung chủ yếu của Thông tư:
Thông tư số 14/2026/TT-BNV quy định chi tiết việc điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, h và i khoản 1, Điều 1 Nghị định số 162/2026/NĐ-CP hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/7/2026, bao gồm đối tượng đang bị tạm dừng hưởng trước ngày 01/7/2026 mà từ ngày 01/7/2026 trở đi được tiếp tục chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Theo Thông tư, từ ngày 01/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 1, Điều 2 Thông tư này được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026.
Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 x 1,08.
Đối với các nhóm đối tượng nghỉ việc hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/01/1995 sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% mà có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng thấp hơn 3,8 triệu đồng/tháng tiếp tục được điều chỉnh như sau:
Người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% bằng hoặc thấp hơn 3,5 triệu đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng thêm 300.000 đồng/tháng.
Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi được điều chỉnh theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Thông tư này + 300.000 đồng/tháng.
Người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% mà cao hơn 3,5 triệu đồng/tháng nhưng thấp hơn 3,8 triệu đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng lên bằng 3,8 triệu đồng/tháng.
Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = 3,8 triệu đồng/tháng.
Đối tượng đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, trợ cấp phục vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 01/7/2026 thì mức hưởng trợ cấp tuất hằng tháng từ ngày 01/7/2026 được tính theo mức lương cơ sở quy định tại Nghị định số 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
8. Hướng dẫn số 02-HD/TU, ngày 19/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về một số nội dung về việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị trên địa bàn
Hướng dẫn nêu rõ: Nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện thống nhất chủ trương của Bộ Chính trị về đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý hằng quý; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ theo hướng thường xuyên, liên tục, thực chất, gắn với kết quả, sản phẩm đầu ra, hiệu quả thực tiễn và trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; từng bước đưa công tác đánh giá cán bộ từ khâu khó, khâu yếu trở thành khâu trọng yếu trong công tác cán bộ. Kết quả đánh giá hằng quý được theo dõi, cập nhật, tích lũy làm căn cứ quan trọng, quyết định việc đánh giá, xếp loại chất lượng cuối năm và phục vụ công tác cán bộ khi cần thiết.
Thông qua kết quả đánh giá hằng quý để kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ có năng lực nổi trội, tư duy đổi mới, sáng tạo, dám nghị, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời, chấn chỉnh, sàng lọc, thay thế cán bộ hạn chế về năng lực, thiếu trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Về phạm vi đối tượng gồm: (1) Cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý hoặc thuộc diện Thường trực Tỉnh ủy được ủy quyền quản lý (gọi chung là cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; (2) Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngoài đối tượng tại Khoản 1 và một số trường hợp khác.
Về quy trình đánh giá:
- Bước l: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả sản phẩm hằng quý
+ Chậm nhất đến ngày 25 tháng cuối của quý trước, các cá nhân căn cứ vào kế hoạch, chương trình công tác năm, để xây dựng Kế hoạch công tác của cá nhân theo quý (Mẫu số 01). Trong đó, cá nhân xác định sản phẩm/công việc chuẩn theo gợi ý tại Phụ lục 1.
+ Cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ hoặc tổ chức, cá nhân được phân công chịu trách nhiệm tổng hợp, tham mưu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Danh mục sản phẩm/công việc chuẩn; thực hiện việc cập nhật, theo dõi, tích lũy, lưu trữ, hình thành hồ sơ đánh giá cán bộ (theo Mẫu số 02).
- Bước 2: Cá nhân tự chấm điểm, đánh giá và đề xuất mức xếp loại
Cuối mỗi quý, cá nhân tự nhận xét, đánh giá; tự chấm điểm theo tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ đã xác định theo Mẫu số 1 ở Bước l và đề xuất mức xếp loại chất lượng (Mẫu số 03). Riêng, quý II/2026, thì liệt kê tất cả những nhiệm vụ được giao vào Mẫu số 03 (không phải thực hiện lại Mẫu số 01 và Mẫu số 02). Trong đó, nội dung kết quả thực hiện nhiệm vụ tại Mục B Phần I của Mẫu số 03, đề nghị cá nhân tham khảo cách thức chấm điểm tại Phụ lục 2.
- Bước 3: Nhận xét, đánh giá
+ Căn cứ kết quả tự đánh giá, đề xuất mức xếp loại của cá nhân và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tập thể, cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ hoặc tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện tổng hợp, thẩm định và đề xuất mức xếp loại chất lượng đối với cá nhân trình Hội đồng đánh giá, xếp loại của cơ quan, đơn vị, địa phương có ý kiến đáņh giá, xếp loại trước khi trình cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện nhận xét, đánh giá và đề xuất quyết định mức xếp loại.
+ Kết quả đánh giá phải căn cứ vào tiến độ; chất lượng sản phẩm đầu ra, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ; mức độ khó, phức tạp, phạm vi tác động của từng nhiệm vụ được giao. Đối với chất lượng sản phẩm đầu ra và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, phải đánh giá rõ mức độ đáp ứng yêu cầu theo 3 mức: (1) Chủ động tiếp cận, giải quyết hiệu quả vấn đề, có kết quả cụ thể; (2) Cơ bản đáp ứng yêu cầu nhưng còn hạn chế, cần tiếp tục hoàn thiện; (3) Không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Bước 4: Đề nghị xếp loại đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; quyết định xếp loại đối với cán bô lãnh đạo, quản Iý còn lại theo thẩm quyền được phân cấp
Trên cơ sở kết quả thẩm định ở Bước 3, cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện nhận xét, đánh giá và đề xuất/quyết định mức xếp loại theo Điều 11 của Quy định 366. Tuy nhiên, cần xem xét thêm một số nội dung cần lưu ý khi xem xét, quyết định/đề xuất mức xếp loại quy định tại Mục 6 của Hướng dẫn này.
Trên cơ sở kết quả nhận xét, đánh giá, xếp loại ở bước trên, cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ xem xét, cho ý kiến việc điều chuyển, bố trí công tác khác đối với cán bộ có vi phạm, khuyết điểm hoặc không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao (nếu có).
- Bước 5: Hoàn chỉnh hồ sơ, gửi đề nghị xếp loại đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; báo cáo kết quả xếp loại đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý còn lại theo thẩm quyền được phân cấp
+ Đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý hoàn thành trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý và gửi về Ban Tổ chức Tỉnh ủy để tổng hơp. Trình Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá, xếp loại, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (gửi Ban Tổ chức Trung ương) theo quy định trước ngày 05 tháng đầu quý tiếp theo.
+ Đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý gửi hồ sơ đề nghị đánh giá, xếp loại về Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tổ chức Tỉnh ủy) trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý để tổng hợp, báo cáo Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xếp loại theo quy định.
+ Đối với nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý còn lại theo phân cấp các cơ quan, đơn vị, địa phương tổng hợp, báo cáo kết quả xếp loại về Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tổ chức Tỉnh) trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý (theo Mẫu số 04) để tổng hợp, báo cáo kết quả về Ban Tổ chức Trung ương trước ngày 05 tháng đầu quý tiếp theo.
- Hồ sơ đề nghị đánh giá, xếp loại gồm: (1) Văn bản đề nghị của cơ quan, đơn vị, địa phương; (2) Biên bản hội nghị đánh giá, xếp loại; (3) Bản tự đánh giá, chấm điểm và xếp loại của cá nhân (Mẫu số 03); (4) Bảng tổng hợp (cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý tổng hợp đề nghị theo Mẫu số 05; cán bộ thuộc diện cơ quan, đơn vị, địa phương được phân cấp quản lý tổng hợp đề nghị theo Mẫu số 06).
- Bước 6: Thông báo và lưu trữ kết quả
+ Thông báo công khai kết quả đánh giá, xếp loại, làm căn cứ đánh giá, xếp loại cuối năm và phục vụ công tác cán bộ khi có yêu cầu.
+ Hồ sơ được thể hiện bằng văn bản, lưu giữ tại cấp có thẩm quyền quản lý, gồm: (1) Biên bản hội nghị đánh giá, xếp loại; (2) Bản tự đánh giá, chấm điểm và xếp loại của cá nhân (Mẫu số 03); (3) Bảng tổng hợp (cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý tổng hợp đề nghị theo Mẫu số 05; cán bộ thuộc diện cơ quan, đơn vị, địa phương được phân cấp quản lý tổng hợp đề nghị theo Mẫu số 06).
Về sử dụng kết quả xếp loại hằng quý:
- Trường hợp cá nhân có 1 quý trong năm xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ” thì không xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” cả năm.
- Việc xem xét, quyết định xếp loại chất lượng cuối năm được căn cứ theo kết quả đánh giá, xếp loại của từng quý trong năm và kết quả thực hiện nhiệm vụ Quý IV trong năm đó. Trường hợp nhiều cá nhân có đủ điều kiện xem xét xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” cuối năm thì ưu tiên lựa chọn cá nhân có số quý được đề xuất xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” nhiều hơn.
- Thực hiện ngay việc thay thế những cán bộ có kết quả đánh giá, xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ” từ 02 quý liên tiếp trở lên.
9. Kế hoạch số 99-KH/TU, ngày 09/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang thực hiện Kết luận số 236-KL/TW, ngày 15/01/2026 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh An Giang
Kế hoạch nhằm quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 236-KL/TW, ngày 15/01/2026 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới; phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong công tác dân vận, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số; góp phần ngăn ngừa, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Kế hoạch đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp: (1) Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng đối với công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; (2) Tăng cường công tác dân vận của chính quyền, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số; (3) Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng theo hướng bám cơ sở, sát địa bàn, phát huy vai trò các lực lượng trong cộng đồng; (4) Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ cơ sở và cán bộ là người dân tộc thiểu số; (5) Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với chăm lo phát triển toàn diện; (6) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Về tổ chức thực hiện, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị:
(1) Các cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Kết luận số 236-KL/TW của Ban Bí thư và Kế hoạch này; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, điều kiện thực tiễn của từng địa phương, đơn vị xây dựng kế hoạch cụ thể, xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình thực hiện, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Định kỳ hằng năm báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch về Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy); báo cáo đột xuất khi có yêu cầu.
(2) Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tham mưu, đề xuất Hội đồng nhân dân tỉnh rà soát, cụ thể hóa hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh liên q uan đến cơ chế, chính sách về công tác dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; thực hiện tốt hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân và việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với những vấn đề Nhân dân quan tâm.
Chỉ đạo các sở, ngành, ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu nâng cao chất lượng thực thi công vụ, tăng cường đối thoại, giải quyết các vấn đề bức xúc trong Nhân dân nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Tập trung bố trí, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và chính sách dân tộc, chuyển đổi số trong công tác dân vận.
(3) Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa các nội dung của Kết luận số 236-KL/TW và Kế hoạch này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Thực hiện tốt vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân đồng thuận, chung sức, đồng lòng cùng hệ thống chính trị thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách dân tộc và các nhiệm vụ chính trị trên địa bàn tỉnh.
(4) Ban Tổ chức Tỉnh ủy tham mưu cho Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, rà soát quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ cơ sở; bảo đảm cơ cấu hợp lý, chú trọng cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện tốt công tác luân chuyển, đánh giá, chính sách đối với cán bộ công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
(5) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy, các cơ quan, đơn vị có liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Kết luận số 236-KL/TW và Kế hoạch này. Định kỳ tham mưu sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
10. Kế hoạch số 100-KH/TU, ngày 12/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về triển khai thực hiện 04 thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử tỉnh An Giang
Kế hoạch nhắm quán triệt, triển khai thống nhất, đồng bộ và hiệu quả 04 thủ tục hành chính (TTHC) của Đảng trên môi trường điện tử trong toàn Đảng bộ, gồm: (1) Chuyển sinh hoạt đảng chính thức; (2) Chuyển sinh hoạt đảng tạm thời; (3) Thu, nộp đảng phí; (4) Lấy ý kiến nhận xét của chi ủy, cho bộ nơi cư trú đối với đảng viên đang công tác. Quá trình thực hiện bảo đảm chuẩn hóa, số hóa quy trình, hồ sơ, nâng cao tính công khai, minh bạch cho tổ chức đảng và đảng viên. Đồng thời, thường xuyên giám sát, đánh giá hiệu quả giải quyết TTHC; bảo đảm tuyệt đối an toàn, an ninh thông tin và bí mật công tác của Đảng trong toàn bộ quá trình tiếp nhận, xử lý và lưu trữ hồ sơ điện tử.
Về phạm vi triển khai: Triển khai thống nhất tại các tổ chức đảng và đảng viên trên toàn tỉnh (trừ các tổ chức đảng thuộc Đảng ủy Quân sự tỉnh và Đảng ủy Công an tỉnh).
Về đối tượng: Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu giúp việc về công tác tổ chức - cán bộ, Văn phòng cấp ủy; đảng viên chính thức, đảng viên dự bị trên địa bàn tỉnh (trừ đảng viên miễn công tác, sinh hoạt đảng, đảng viên ở nước ngoài và các đảng viên đang sinh hoạt tại các tổ chức đảng trực thuộc Đảng ủy Quân sự tỉnh và Đảng ủy Công an tỉnh); các đơn vị kỹ thuật tham gia bảo đảm hạ tầng, an toàn thông tin và hỗ trợ vận hành hệ thống.
Về nội dung và nhiệm vụ trọng tâm:
(1) Công tác quán triệt, tuyên truyền: Các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt, phổ biến, tuyên truyền và triển khai thực hiện Quy định số 338-QĐ/TW của Ban Bí thư, Kế hoạch số 77-KH/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng, Kế hoạch số 86-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch này thông qua các kỳ sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, các hội nghị liên quan, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của việc thực hiện TTHC trên môi trường điện tử.
(2) Chuẩn bị dữ liệu, hạ tầng và kỹ thuật. Trong đó, rà soát, chuẩn hóa thông tin tổ chức đảng, đảng viên; đối soát dữ liệu đảng viên trên Cơ sở dữ liệu (CSDL) đảng viên 4.0, bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ và đồng bộ với hệ thống thực hiện thủ tục hành chính của Đảng.
Quản trị, cấp phát, kích hoạt tài khoản và phân quyền chặt chẽ, rà soát, bảo đảm các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, đường truyền, thiết bị. Bố trí lực lượng hỗ trợ kỹ thuật để kịp thời xử lý, khắc phục các vấn đề phát sinh.
(3) Đào tạo, tập huấn và hỗ trợ người dùng
Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn cho lực luợng nồng cốt do Trung ương tổ chúc. Tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho cán bộ quản trị hệ thống, cán bộ kỹ thuật và cán bộ hỗ trợ thực hiện TTHC của Đảng tại địa phuơng, bảo đảm đủ năng lực hỗ trợ, xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình triển khai và vận hành hệ thống. Thiết lập các kênh hỗ trợ kỹ thuật và nghiệp vụ (đường dây nóng, hộp thư điện tử, nhóm hỗ trợ trực tuyến); bố trí cán bộ hỗ trợ tại cơ sở trong giai đoạn đầu triển khai trên phạm vi toàn tỉnh.
Duy trì, triển khai hiệu quả “Tổ công nghệ số cộng đồng” để hỗ trợ, hướng dẫn trực tiếp cho đảng viên tại các xã, phường, đặc khu, nhất là đảng viên cao tuổi, đảng viên chưa có thiết bị thông minh.
Về lộ trình thực hiện: Từ ngày 01/7/2026 - 30/11/2026, hoàn thành việc triển khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử trên toàn tỉnh. Bảo đảm 100% các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy hoàn thành việc triển khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử.
Nội dung thực hiện, gồm: (1) Hoàn thành tập huấn đến cấp chi bộ cơ sở; (2) Tập trung rà soát, xử lý dứt điểm các trường hợp sai lệch thông tin đảng viên, thiếu thông tin tài khoản ngân hàng tại các đơn vị; (3) Tổ chức thực hiện TTHC trên môi trường điện tử; đối với các đơn vị đã đủ điều kiện, thực hiện chuyển sang điện tử, tiến tới thay thế hoàn toàn phương thức giấy; (4) Thường xuyên đánh giá tiến độ triển khai, kịp thời nhận diện các đơn vị còn chậm trễ để có phương án hỗ trợ đặc biệt, tháo gỡ khó khăn; (5) Các “Tổ công nghệ số cộng đồng” tại các địa phương hoặc tổ chức Tổ công tác hỗ trợ đặc biệt của tỉnh (nếu cần thiết) xuống trực tiếp các đơn vị đang gặp vướng mắc để “cầm tay chỉ việc” và xử lý kỹ thuật tại chỗ; (6) Tổ chức rà soát, kiểm tra dữ liệu toàn hệ thống, bảo đảm đồng bộ giữa CSDL đảng viên 4.0 và hệ thống TTHC; (7) Truyền thông rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, bảo đảm lan tỏa và thống nhất trong toàn hệ thống chính trị. Từ tháng 12/2026, 04 TTHC được triển khai thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử.
Về tổ chức thực hiện:
(1) Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn tỉnh bảo đảm hạ tầng, an toàn thông tin; xây dựng tài liệu và tổ chức tập huấn toàn tỉnh. Phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy và các ngành, đơn vị, địa phương có liên quan tổng hợp, tham mưu Ban Thuờng vụ Tỉnh ủy báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch triển khai TTHC của Đảng trên môi trường điện tử (hoàn thành trước ngày 30/11/2026) để gửi Văn phòng Trung ương Đảng.
(2) Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì đôn đốc, kiểm tra việc quản lý, chuẩn hóa dữ liệu đảng viên trên CSDL đảng viên 4.0; hướng dẫn các cấp ủy về nghiệp vụ tổ chức đảng, đảng viên thực hiện TTHC của Đảng theo đúng quy định. Khẩn trương rà soát, cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu tổ chức đảng, đảng viên theo hướng dẫn tại Công văn số 20279-CV/VPTW, ngày 22/01/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về hướng dẫn, triền khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử. Định kỳ rà soát, đánh giá dữ liệu đảng viên; chỉ đạo việc làm sạch, cập nhật, hoàn thiện dữ liệu nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và cải cách TTHC của Đảng.
(3) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, thực hiện Quy định số 338-QĐTW của Ban Bí thư, Kế hoạch số 86-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và việc triển khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử; định hướng các cơ quan thông tin, báo chí, truyền thông tổ chức tuyên truyền sâu rộng các nội dung của Kế hoạch này; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện TTHC của Đảng trên môi trường điện tử.
(4) Các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, cụ thể hóa kế hoạch triẻn khai tại địa phương, đơn vị phù hợp; sử dụng thống nhất TTHC của Đảng trên môi trường điện tử theo Kế hoạch này.
Quản lý chặt chẽ tài khoản được cung cấp; chỉ đạo cấp ủy trực thuộc hỗ trợ đối với đảng viên cao tuổi, đảng viên chưa sử dụng điện thoại thông minh; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện TTHC của Đảng ở các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc. Huy động sự hỗ trợ của Tổ Công nghệ số cộng đồng trong việc trực tiếp hướng dẫn cán bộ, đảng viên khai thác, sử dụng các ứng dụng công nghệ số. Chỉ đạo việc tạo lập và khai báo tài khoản ngân hàng cho các tổ chức đảng để thực hiện thu, nộp đảng phí theo hướng dẫn của Văn phòng Tỉnh ủy.
Bố trí cán bộ phụ trách triển khai TTHC của Đảng tại đơn vị tham gia các lớp đào tạo, tập huấn do Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tỉnh ủy tổ chức làm đầu mối hỗ trợ và thúc đẩy triển khai có hiệu quả TTHC và Dịch vụ công trực tuyến của Đảng tại địa phương.
Bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả triển khai tại địa phương, đơn vị mình.
(5) Các cấp ủy, tổ chức đảng, chi bộ trực thuộc và đảng viên
Chi ủy, bí thư chi bộ có trách nhiệm phê duyệt các hồ sơ của đảng viên thuộc tổ chức đảng mình quản lý; hướng dẫn đảng viên sử dụng TTHC của Đảng đúng quy trình, bảo đảm đảng viên sử dụng ứng dụng để thực hiện đủ các TTHC của Đảng; định kỳ báo cáo tình hình triển khai và kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc lên cấp ủy cấp trên.
Các tổ chức đảng, đảng viên có trách nhiệm đăng ký, quản lý tài khoản được cấp; sử dụng ứng dụng TTHC theo đúng mục đích, quy định.
Trong quá trình triển khai, các tổ chức đảng chủ động rà soát, đôn đốc, bảo đảm 100% đảng viên đủ điều kiện tham gia sử dụng TTHC của Đảng trên môi trường điện tử theo lộ trình đề ra. Đảng viên có trách nhiệm cài đặt, đăng ký và sử dụng tài khoản dịnh danh điện tử VNeID mức độ 2 theo quy định của pháp luật để thực hiện TTHC của Đảng trên môi trường điện tử.
11. Công văn số 507-CV/TU, ngày 17/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn
Công văn nêu rõ: Thời gian qua, các cấp ủy đảng, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội phối hợp với lực lượng Công an triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều chủ trương, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy vẫn còn diễn biến phức tạp, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm ngày càng tinh vi, số người nghiện và người sử dụng trái phép ma túy còn nhiều; tinh thần, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống ma túy từng lúc chưa quyết liệt; vai trò, trách nhiệm của một số ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền cơ sở trong phòng, chống ma túy chưa được phát huy đầy đủ; công tác phối hợp liên ngành còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả quản lý người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy chưa cao.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, đồng thời quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Công văn số 573/TTg-KGVX, ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Tháng hành động phòng, chống ma túy, Ngày Quốc tế và Ngày toàn dân phòng, chống ma túy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:
Một là, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Công an, của Tỉnh ủy về phòng, chống và kiểm soát ma túy, trọng tâm là: Kết luận số 132-KL/TW, ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày l6/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy; Nghị quyết số 163/2024/QH15, ngày 27/11/2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030; Nghị quyết số 50/NQ-CP, ngày 13/3/2025 của Chính phủ về ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 163/2024/QH15; Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 03/10/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống ma túy trong tình hình mới.
Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác quán triệt thực hiện ở đơn vị, địa phương mình, triển khai có hiệu quả Tháng hành động phòng, chống ma túy (tháng 6), Ngày Quốc tế và Ngày toàn dân phòng, chống ma túy (ngày 26/6); xác định công tác phòng, chống ma túy là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; đề cao trách nhiệm người đứng đầu; lấy kết quả công tác đấu tranh phòng, chống ma túy, xây dựng địa bàn không ma túy và hiệu quả thực chất tại cơ sở làm tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện, đánh giá, xếp loại cấp ủy, tổ chức đảng hằng năm; đồng thời là tiêu chí để nhận xét, đánh giá cán bộ đảng viên và cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp. Mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy vai trò tiên phong, guơng mẫu trong phòng, chống ma túy; có trách nhiệm tuyên truyền vận động gia đình, người thân và Nhân dân nơi cư trú tham gia thực hiện công tác này.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm ma túy, tác hại, hậu quả do ma túy gây ra, trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội trong phòng ngừa, tố giác, đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy; tổ chức các hoạt động thiết thực hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy. Trong đó: Các cơ quan truyền thông trên địa bàn tỉnh phát huy hơn nữa vai trò công tác thông tin, tuyên truyền, chú ý tăng cường các bài viết, thời lượng tuyên truyền trong Tháng hành động phòng, chống ma túy. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tiếp tục định hướng, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy gắn với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy. Tăng cường nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; kịp thời đấu tranh, phản bác thông tin xấu độc, quan điểm sai trái liên quan đến công tác phòng, chống ma túy; phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, người có uy tín trong cộng đồng tham gia tuyên truyền.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, giao nhiệm vụ các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội tích cực tham gia phối hợp hợp với lực lượng Công an trong quản lý, giáo dục, cảm hóa các đối tượng ma túy tại địa bàn cơ sở; phát huv vai trò của gia đình, khóm, ấp, khu dân cư, tổ chức chính trị - xã hội trong công tác quản lý, giáo dục đối tượng ma túy và quản lý sau cai, thực hiện tốt phương châm quản lý tại cơ sở, từ gia đình và cộng đồng dân cư.
Hai là, Đảng ủy Công an tỉnh, Đảng ủy Quân sự tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các ngành, địa phương liên quan tập trung lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng triển khai có hiệu quả cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm về ma túy trên phạm vi toàn tỉnh từ ngày 01/6/2026 đến ngày 30/6/2026, “đánh mạnh, đánh đúng, đánh trúng” các loại tội phạm về ma túy; đấu tranh, bóc gỡ, triệt xóa tận gốc các đường dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy liên tỉnh, xuyên quốc gia, hoạt động trên không gian mạng; triệt phá các điểm tổ chức, chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy; chặt đứt quan hệ “cung - cầu” ma túy.
Ba là, Đảng ủy Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh lãnh đao, chỉ đạo lực lượng phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy bảo đảm nghiêm minh, đúng quy định pháp luật, chú ý lựa chọn xét xử lưu động một số vụ án về ma túy, góp phần tuyên truyền, răn đe, phòng ngừa chung.
Bốn là, Đảng ủy các xã, phường, đặc khu tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai các giải pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy, đấu tranh, trấn áp mạnh tội phạm về tệ nạn ma túy, quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng; tăng cường dạy nghề, tạo việc làm, hỗ trợ vay vốn, tạo sinh kế ổn định cho người sau cai nghiện ma túy; nhân rộng các mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng hiệu quả, góp phần giảm tái nghiện và bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở.
Giao Đảng ủy Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy, các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công văn này, báo cáo kết quả thực hiện cho Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo quy định.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang