THÔNG TIN NỘI BỘ

http://noibo.angiang.dcs.vn


Văn bản mới (số tháng 6 năm 2026)

Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định các mức phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20% đến 80% được xác định theo đối tượng thụ hưởng. Ảnh TL

Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định các mức phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20% đến 80% được xác định theo đối tượng thụ hưởng. Ảnh TL

 
1. Kế hoạch số 03-KH/TW, ngày 18/5/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới
Kế hoạch nhằm triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp được Nghị quyết số 04-NQ/TW đề ra. Tạo sự thống nhất cao về nhận thức, hành động quyết liệt, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương, cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Các ban đảng Trung ương, đảng ủy trực thuộc Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy căn cứ Nghị quyết số 04-NQ/TW và Kế hoạch của Bộ Chính trị, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và yêu cầu thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương mình chủ động xây dựng chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể để thực hiện hiệu quả Nghị quyết; xác định rõ nhiệm vụ cụ thể, phân công rõ trách nhiệm cho từng cấp ủy, tổ chức đảng và lộ trình triển khai; thường xuyên sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.
Về công tác quán triệt nghị quyết và triển khai Kế hoạch thực hiện, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết số 04-NQ/TW: Bộ Chính trị giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Nội chính Trung ương và các cơ quan liên quan hướng dẫn các cấp ủy tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết số 04-NQ/TW (hoàn thành trong quý II/2026); đồng thời chỉ đạo các cơ quan báo chí tăng cường tuyên truyền nội dung và kết quả thực hiện Nghị quyết (thực hiện thường xuyên). Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW trong phạm vi phụ trách phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương (hoàn thành trong quý II/2026).
Cũng theo Kế hoạch, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, xây dựng chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện Nghị quyết; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết.
Hai là, nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu, thực hành văn hoá liêm chính của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và cán bộ, đảng viên trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Xử lý nghiêm người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc bao che, cản trở việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đồng thời, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ tổ chức, cá nhân, người đứng đầu chủ động phát hiện, xử lý kịp thời tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ. Nâng cao hiệu quả giáo dục liêm chính, xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính.
Ba là, tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, nghiêm minh, nhất quán, rõ trách nhiệm. Thể chế hoá, cụ thể hoá đầy đủ, kịp thời chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo các văn kiện, nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận của Đảng, trước hết là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Bốn là, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường quản lý, giám sát cán bộ, gắn với kiểm soát chặt chẽ, thực chất tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Chủ động nhận diện, dự báo, cảnh báo, xử lý vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; kiểm soát hiệu quả các điều kiện phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tập trung vào các lĩnh vực mới, trọng yếu, then chốt tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Năm là, xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhân văn, thuyết phục, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời, bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ bối cảnh lịch sử cụ thể và lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc để xử lý phù hợp. Ưu tiên thu hồi tối đa tài sản, khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả.
Sáu là, thực hiện đồng bộ các giải pháp, triển khai quyết liệt, toàn diện, tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về công tác phòng, chống lãng phí cả về thời gian, cơ hội phát triển, nguồn lực và của cải, vật chất trong hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Bảy là, đổi mới, hiện đại hóa công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tạo sự lan toả, đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội về quyết tâm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hoàn thiện cơ chế để Nhân dân phản ánh, tố giác tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiểm soát quyền lực nhà nước thực sự hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; hoàn thiện các thiết chế phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Tám là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; hoàn thiện các thiết chế phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo đảm không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tăng cường hợp tác quốc tế, đàm phán, ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp, các thoả thuận, điều ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng; đẩy mạnh truy bắt, dẫn độ những đối tượng bỏ trốn, thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài.
2. Nghị định số 85/2026/NĐ-CP, ngày 25/3/2026 của Chính phủ, về bảo hiểm hưu trí bổ sung
Nghị định gồm 45 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2026 và thay thế Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:
Nghị định quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 127 Luật Bảo hiểm xã hội, gồm: tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, thiết lập, quản lý và đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; doanh nghiệp quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Nghị định này không điều chỉnh các nội dung sau: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; Hoạt động cung cấp sản phẩm bảo hiểm hưu trí của doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn; Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán của các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Về quy định tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, Nghị định quy định: Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung là người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.
Nghị định nhấn mạnh, việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.
Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.
Căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung và thực hiện đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.
Điều kiện để người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp phải được nêu cụ thể tại văn bản thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trường hợp người sử dụng lao động có điều kiện về thời gian làm việc tối thiểu đối với người lao động thì không quá 5 năm.
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện nêu trên, người lao động cũng được hưởng quyền lợi khi thuộc một trong các trường hợp sau: bị tử vong; đang mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS); có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc là người khuyết tật đặc biệt nặng; người lao động là công dân nước ngoài không tiếp tục cư trú tại Việt Nam hoặc giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.
3. Nghị định số 182/2026/NĐ-CP, ngày 22/5/2026 của Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong các cơ sở giáo dục công lập
Theo đó, Nghị định quy định mức phụ cấp ưu đãi theo nghề như sau:
1. Mức phụ cấp ưu đãi 20% được áp dụng đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, trường trung học nghề, trường chuyên biệt, Trường Hữu nghị 80, Trường Hữu nghị T78, Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập.
2. Mức phụ cấp ưu đãi 25% được áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Nhà giáo giảng dạy trong cơ sở giáo dục đại học và các trường đào tạo, bồi dưỡng của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương;
b) Người trực tiếp hướng dẫn thực hành tại xưởng trường, trạm, trại, phòng thí nghiệm của cơ sở giáo dục đại học hoặc hướng dẫn thực hành chương trình giáo dục đại học trên tàu huấn luyện.
3. Mức phụ cấp ưu đãi 30% được áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Nhà giáo giảng dạy trong trung tâm chính trị của xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
b) Nhà giáo giảng dạy lý thuyết hoặc thực hành trong trường cao đẳng, trường trung cấp;
c) Người trực tiếp hướng dẫn thực hành tại xưởng trường, trạm, trại, phòng thí nghiệm của trường cao đẳng, trường trung cấp hoặc hướng dẫn thực hành chương trình giáo dục nghề nghiệp trên tàu huấn luyện;
d) Nhà giáo giảng dạy trong trung tâm giáo dục nghề nghiệp.
4. Mức phụ cấp ưu đãi 35% được áp dụng đối với nhà giáo giảng dạy trong trung tâm giáo dục nghề nghiệp đóng trên địa bàn các xã khu vực I, khu vực II vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xã đảo, hải đảo, xã biên giới theo quy định.
5. Mức phụ cấp ưu đãi 40% được áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Nhà giáo giảng dạy môn giáo dục chính trị trong trường trung cấp;
b) Nhà giáo giảng dạy trong trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường trung học nghề;
c) Nhà giáo giảng dạy trong trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên;
d) Nhà giáo giảng dạy trong trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo, trường sư phạm, khoa sư phạm thuộc cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng;
đ) Nhà giáo giảng dạy tích hợp lý thuyết với thực hành trong trường cao đẳng, trường trung cấp;
e) Nhà giáo là Nghệ sĩ ưu tú, Thầy thuốc ưu tú, Nghệ nhân ưu tú trở lên hoặc người có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 4 trở lên hoặc thợ bậc 5/6, 6/7 trở lên hoặc tương đương, trực tiếp giảng dạy thực hành trong trường cao đẳng, trường trung cấp.
6. Mức phụ cấp ưu đãi 45% được áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Nhà giáo giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học;
b) Nhà giáo giảng dạy trong trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trường trung học nghề đóng trên địa bàn các xã khu vực I, khu vực II vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xã đảo, hải đảo, xã biên giới theo quy định;
c) Nhà giáo giảng dạy môn giáo dục chính trị trong trường cao đẳng, các môn lý luận chính trị trong cơ sở giáo dục đại học, trường đào tạo, bồi dưỡng của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương.
7. Mức phụ cấp ưu đãi 60% được áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đang công tác trong trường năng khiếu thể dục thể thao, trường năng khiếu nghệ thuật, trường phổ thông dân tộc bán trú;
b) Nhà giáo giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học đóng trên địa bàn xã khu vực I, khu vực II vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xã đảo, hải đảo, xã biên giới theo quy định.
8. Mức phụ cấp ưu đãi 70% được áp dụng đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 9).
9. Mức phụ cấp ưu đãi 80% được áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đang công tác trong trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông nội trú, trường trung học phổ thông chuyên, trường dự bị đại học, Trường Hữu nghị 80, Trường Hữu nghị T78, Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc;
b) Nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đang công tác trong trường, lớp dành cho người khuyết tật (trừ trường hợp quy định tại Điều 4 Nghị định này), trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập;
c) Nhà giáo giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, trường trung học nghề, trường chuyên biệt đóng trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ.
10. Nhà giáo giảng dạy trong Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hưởng mức phụ cấp ưu đãi theo nghề như hiện hành theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương cho đến khi có quy định mới.
11. Nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công tác trong trường giáo dưỡng hưởng phụ cấp phục vụ quốc phòng, an ninh và phụ cấp thâm niên theo quy định tại điểm a và điểm đ khoản 8 Điều 6 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (Nghị định số 204/2004/NĐ-CP). Trường hợp mức phụ cấp được hưởng này thấp hơn mức 70% thì được hưởng thêm tỉ lệ phần trăm chênh lệch để đạt được mức phụ cấp ưu đãi bằng 70% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).
Thời gian không được tính hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề
Nghị định quy định, nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, nhân sự hỗ trợ giáo dục thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định này không được tính hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề trong các khoảng thời gian sau:
1. Thời gian đi công tác, làm việc hoặc học tập ở nước ngoài theo chế độ chỉ hưởng 40% tiền lương quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.
2. Thời gian bị đình chỉ công tác, thời gian bị tạm giữ, tạm giam.
3. Thời gian nghỉ thai sản đối với nhà giáo nữ và thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
4. Thời gian nghỉ không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 07/7/2026. Các mức phụ cấp ưu đãi theo nghề quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01/01/2026. 
4. Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 20/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2025-2030
Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết nêu rõ:
(1) Khẳng định và bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng đối với công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Công tác cán bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; được thực hiện đồng bộ, chặt chẽ, đúng nguyên tắc, quy trình, quy định của Đảng; bảo đảm tính kế thừa, ổn định và phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong từng giai đoạn.
(2) Xác định công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Nhận thức đúng đắn và đầy đủ vai trò, vị trí của cán bộ cấp xã là lực lượng giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở cơ sở; là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; xây dựng, phát huy và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng cơ sở.
(3) Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã phải toàn diện, đồng bộ, thực chất, lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo; gắn công tác cán bộ với chuyển đổi số, thực thi công vụ và cải cách hành chính. Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã, đổi mới công tác tuyển chọn, bố trí và sử dụng cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo yêu cầu thực tiễn; hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ bằng kết quả đầu ra và sự hài lòng của người dân. Siết chặt kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ ở cấp xã.
Về mục tiêu: Nghị quyết nhằm nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã theo hướng đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp trong tình hình mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao, năng lực thực tiễn tốt, tư duy đổi mới, thích ứng nhanh với chuyển đổi số. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và đánh giá cán bộ; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc theo hướng hiện đại, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã, đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới.
Về chỉ tiêu cụ thể:
(1) Phấn đấu ít nhất 95% cán bộ, công chức, viên chức cấp xã được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.
(2) 100% cán bộ, công chức, viên chức cấp xã có đạt chuẩn yêu cầu về trình độ lý luận chính trị, 50% ủy viên ban thường vụ đảng ủy có trình độ chuyên môn sau đại học phù hợp với yêu cầu công tác.
(3) Phấn đấu 100% cán bộ, công chức, viên chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số; đa số cán bộ, công chức, viên chức cấp xã sử dụng thành thạo các hệ thống số.
(4) Phấn đấu tỷ lệ cán bộ trẻ (dưới 42 tuổi) trong các chức danh lãnh đạo chủ chốt từ 10% trở lên.
(5) Phấn đấu tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong cấp ủy cấp xã tương ứng.
Nghị quyết đề ra những nhiệm vụ, giải pháp sau: (1) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã; (2) Hoàn thiện cụ thể tiêu chuẩn chức danh; (3) Đổi mới công tác tuyển dụng cán bộ; (4) Tăng cường công tác quy hoạch, đánh giá, luân chuyển, bố trí sử dụng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã; (5) Về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã; (6) Rà soát, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở; nâng cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; (7) Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động công vụ; (8) Chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và tạo điều kiện phấn đấu cho cán bộ, công chức, viên chức cấp xã; (9) Tăng cường kiểm tra, giám sát.
5. Kế hoạch số 79-KH/TU, ngày 07/5/2026 thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Kế hoạch nhằm quán triệt đầy đủ, sâu sắc, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị, tạo sự chuyển biến về nhận thức, thống nhất hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và toàn xã hội trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, góp phần huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững của tỉnh.
Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải bám sát chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; siết chặt các quy định về phòng ngừa lãng phí, chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải kéo dài, kém hiệu quả. Cần sớm giải quyết dứt điểm các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, làm rõ nguyên nhân, chỉ đạo xử lý theo thẩm quyền, cho thời hạn khắc phục để sớm đưa công trình, dự án vào khai thác, sử dụng đúng theo quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư “Không để lãng phí kéo dài, không hợp pháp hóa các sai phạm. Đối với các dự án có dấu hiệu sai phạm thì phải thanh tra, kiểm tra, kết luận làm rõ trước khi cho tiếp tục triển khai”; nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp, hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp để tránh thất thoát, lãng phí.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu việc triển khai thực hiện phải nghiêm túc, cụ thể, thực chất, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phải bảo đảm thúc đẩy việc huy động, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải được xác định có vị trí tương đương với chống tham nhũng, tiêu cực, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi của các cấp, các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp và quần chúng nhân dân; gắn với đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện đồng bộ, toàn diện, gắn kết giữa các ngành, lĩnh vực với sự tham gia của tất cả cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; bảo đảm phân công, phân cấp cụ thể, rõ đầu mối thực hiện.
Các chỉ tiêu về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực phải được lượng hóa tối đa, bảo đảm thực chất, có kết quả cụ thể, có cơ sở cho việc đánh giá, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện theo quy định. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải gắn với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, thúc đẩy cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: (1) Tổ chức quán triệt, nâng cao nhận thức, tổ chức thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; (2) Triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; (3) Xây dựng và tổ chức triển khai có hiệu quả chương trình về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 5 năm, hằng năm; (4) Tăng cường quản lý nhà nước trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; (5) Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu: (1) Các đảng ủy trực thuộc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai, quán triệt Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch này đến cán bộ, đảng viên; căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cụ thể hóa thực hiện phù hợp với tình hình thực tiễn của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; (2) Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành cấp tỉnh, các doanh nghiệp nhà nước và ủy ban nhân dân các xã, phương, đặc khu căn cứ chức năng, nhiệm vụ triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch này.
(3) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh có kế hoạch quán triệt Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch này đến các cấp, các ngành, chỉ đạo, định hướng các cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh tăng cường tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo sự đồng thuận xã hội trong triển khai, thực hiện.
(4) Đảng ủy Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội lãnh đạo tăng cường giám sát hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương, kịp thời phản ánh đến cơ quan chức năng các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là các hành vi lãng phí; đồng thời, kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ, khen thưởng người phát hiện, tố cáo đúng hành vi vi phạm về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
(5) Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, báo cáo kết quả thực hiện cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Kế hoạch này được phổ biến đến chi bộ và thay thế các văn bản trước đây có liên quan.
6. Kế hoạch số 80-KH/TU, ngày 08/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 10/01/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Kế hoạch nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, trước hết là người đứng đầu trong việc quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị. Bảo vệ tốt người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (viết tắt là người tố cáo); tạo sự yên tâm, khuyến kích, động viên cán bộ, đảng viên và người dân tích cực tham gia đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Các cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ người tố cáo; phát huy vai trò của cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong công tác bảo vệ nguời tố cáo. Các tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm bảo vệ tối đa, không để xảy ra tình trạng trù dập, trả thù người tố cáo; qua đó, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra các nhiệm vụ, giải pháp: (1) Nâng cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu trong công tác bảo vệ người tố cáo; (2) Triển khai thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo; (3) Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với công tác bảo vệ người tố cáo; (4) Đề cao trách nhiệm, nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ giải quyết tố cáo; (5) Tăng cường công tác phòng ngừa, ngăn chặn việc trả thù, trù dập người tố cáo; (6) Biểu dương, khen thưởng phù hợp, tạo động lực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; (7) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ người tố cáo.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tổ chức quán triệt, cụ thể hóa bằng chương trình hoặc kế hoạch sát hợp với tình hình, chức năng, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị để tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 27-CT/TW, Quy định số 231-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch này. Ban Nội chính Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, các cơ quan liên quan giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và định kỳ, đột xuất báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch này.
Kế hoạch này được triển khai đến chi bộ và thay thế các kế hoạch, văn bản có liên quan đã ban hành trước đây.
7. Kế hoạch số 81-KH/TU, ngày 08/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 02/6/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế
Kế hoạch nhằm quán triệt, cụ thể hóa, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 04-CT/TW; khắc phục hạn chế, khuyết điểm, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, đảng viên trong công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp như sau: (1) Nâng cao nhận thức trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; (2) Lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; (3) Nâng cao trách nhiệm và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; (4) Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm sát công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; (5) Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tổ chức quán triệt, phổ biến Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư và Kế hoạch này; căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, lồng ghép vào chương trình, kế hoạch định kỳ lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy hướng dẫn việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Kế hoạch này đến cấp ủy, chi bộ và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thực và hành động của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân trong công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế. Ban Nội chính Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các đảng ủy: Ủy ban nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Thi hành án dân sự tỉnh và các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Kế hoạch này và định kỳ báo cáo về Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Kế hoạch này được triển khai đến chi bộ và thay thế các kế hoạch, văn bản có liên quan đã ban hành trước đây.
8. Kế hoạch số 82-KH/TU, ngày 08/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Quy định số 132-QĐ/TW, ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
Kế hoạch nhằm tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, toàn diện Quy định số 132-QĐ/TW gắn với các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và Tỉnh ủy về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách tư pháp nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và cán bộ, đảng viên trong các cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án; kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực; chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tư pháp trên địa bàn tỉnh. Qua đó, góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, thi hành án liêm chính, bản lĩnh, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu tư pháp trong tình hình mới.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu việc triển khai phải đồng bộ, thực chất, gắn với nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và trách nhiệm người đứng đầu; kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa với phát hiện, xử lý; giữa kiểm soát quyền lực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và công tác cán bộ. Xác định rõ trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cá nhân; bảo đảm phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong khối nội chính và cơ quan có liên quan. Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán với phương châm phòng ngừa là chính, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Kế hoạch đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp gồm: (1) Tổ chức thực hiện nghiêm các chủ trương, quy định về hoạt động tố tụng và thi hành án; (2) Rà soát, hoàn thiện cơ chế, quy định để kiểm soát quyền lực; (3) Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp liên ngành; (4) Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm; (5) Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; (6) Tăng cường tuyên truyền, giáo dục.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Tỉnh ủy có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quy định số 132-QĐ/TW và Kế hoạch này. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chịu trách nhiệm trực tiếp về việc thực hiện trách nhiệm kiểm soát quyền lực tại địa phương, cơ quan, đơn vị, định kỳ hằng năm báo cáo kết quả thực hiện về Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thi hành án và hoạt động có liên quan, bảo đảm thống nhất với Quy định số 132-QĐ/TW.
Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Đảng ủy Cơ quan Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, Đảng ủy Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh lãnh đạo rà soát, tham mưu hoàn thiện các quy định, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, Nhân dân; thực hiện nghiêm việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, tố cáo liên quan đến tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động có liên quan.
Đảng ủy các cơ quan tư pháp, thi hành án lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện Quy định số 132-QĐ/TW trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý. Rà soát, hoàn thiện quy chế, quy định nội bộ; tổ chức kiểm tra, tự kiểm tra; kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về công tác cán bộ; chủ động báo cáo, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Quy định số 132-QĐ/TW; trong đó, chỉ đạo phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với công tác phát hiện, phản ánh, đấu tranh ngăn chặn các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác liên quan nhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; kịp thời phản ánh, nêu gương, biểu dương đối với những tập thể, cá nhân phát hiện, cung cấp thông tin, tố cáo đúng các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ban Nội chính Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tỉnh theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định số 132-QĐ/TW; tiến hành sơ kết, tổng kết theo quy định.
Kế hoạch này được thay thế các văn bản có liên quan đã ban hành trước đây.
9. Kế hoạch số 83-KH/TU, ngày 08/5/2026 thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW, ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật
Kế hoạch nhằm tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện Nghiêm túc Quy định số 178-QĐ/TW, tạo sự thống nhất về nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật; phòng ngừa, ngăn chặn, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
Kế hoạch đề ra 03 nhiệm vụ, giải pháp, gồm: (1) Công tác quán triệt, triển khai thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW; (2) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, các cơ quan truyền thông và Nhân dân trong công tác xây dựng pháp luật; (3) Tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các quy định của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị:
(1) Các cấp ủy đảng trực thuộc Tỉnh ủy, các sở, ban, ngành cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo tổ chức quán triệt, triển khai và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quy định số 178-QĐ/TW và Kế hoạch này.
(2) Đảng ủy Các cơ quan Đảng tỉnh, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc cụ thể hóa kế hoạch này và tổ chức thực hiện đúng nội dung yêu cầu Quy định số 178-QĐ/TW. Theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành thường xuyên lãnh đạo rà soát, kiến nghị ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản có liên quan. Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật nhằm phát hiện sơ hở, bất cập có nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong văn bản quy phạm pháp luật, để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung.
(3) Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW và Kế hoạch này; xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật tập thể, cá nhân vi phạm trong công tác xây dựng pháp luật theo đúng quy định (nếu có).
(4) Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan có liên quan nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế bộ máy, cán bộ, chế độ, chính sách, kinh phí trong công tác xây dựng pháp luật bảo đảm đúng, đầy đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế theo đúng quy định của Đảng.
(5) Đảng ủy Công an tỉnh, Đảng ủy Quân sự tỉnh đẩy mạnh công tác nắm tình hình, thường xuyên trao đổi, thông báo, tham mưu cho cơ quan chức năng, người có thẩm quyền có biện pháp xử lý tình hình, các âm mưu, phương thức, thủ đoạn tác động chuyển hóa nội bộ thông qua hoạt động xây dựng pháp luật của các thế lực thù địch, phản động và các phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm tham nhũng, các hành vi tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng pháp luật.
(6) Đảng ủy Các cơ quan Đảng tỉnh chỉ đạo Đảng ủy Cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nghiên cứu, tham mưu đề xuất hoàn thiện cơ chế và tham gia ý kiến, phản biện xã hội trong công tác xây dựng pháp luật; đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý các trường hợp vi phạm được phát hiện qua công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội và phản ánh của các cơ quan truyền thông báo chí và Nhân dân.
(7) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu quán triệt, tuyên truyền việc thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW và Kế hoạch này thiết thực, hiệu quả.
(8) Ban Nội chính Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy và các cơ quan có liên quan giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW và Kế hoạch này; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy và Trung ương theo quy định.
Kế hoạch này được phổ biến đến chi bộ và thay thế các chương trình, kế hoạch có liên quan đã ban hành trước đây.
10. Kế hoạch số 84-KH/TU, ngày 08/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Quy định số 183-QĐ/TW, ngày 18/9/2024 của Bộ Chính trị về bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
 Kế hoạch nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, người có thẩm quyền trong công tác bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án theo Quy định số 183-QĐ/TW của Bộ Chính trị. Việc triển khai, quán triệt, thực hiện Quy định số 183-QĐ/TW phải được tổ chức nghiêm túc; bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền con người, quyền công dân và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; khuyến khích người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp: (1) Công tác triển khai, quán triệt, tuyên truyền; (2) Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án; (3) Củng cố, kiện toàn, xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án; (4) Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định số 183-QĐ/TW.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu:
(1) Các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, theo chức năng, nhiệm vụ, lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy định số 183-QĐ/TW và Kế hoạch này.
(2) Đảng ủy Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh, Đảng ủy Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh và các cấp ủy, tổ chức đảng liên quan lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản pháp liên quan lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản pháp luật luên quan đến bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các cá nhân có liên quan, bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất với Quy định số 183-QĐ/TW của Bộ Chính trị.
(3) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội rà soát, sửa đổi, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, giám sát việc thực hiện cơ chế bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án.
(4) Ban Nội chính Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy và các cơ quan có liên quan giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định số 183-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch này; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy và Trung ương theo quy định.
11. Kế hoạch số 85-KH/TU, ngày 08/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 43-CT/TW, ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành pháp luật của Nhà nước
Kế hoạch nêu rõ nhằm tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nội dung Chỉ thị số 43-CT/TW đến các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đối với công tác thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành pháp luật của Nhà nước. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo tinh thần Chỉ thị số 43-CT/TW phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh. Xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
Kế hoạch đề ra các nhiệm vụ, giải pháp như sau:
Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan, đơn vị có liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và tầm quan trọng của công tác thể chế hóa và cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về công tác này.
Hai là, các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác triển khai thực hiện thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, trong đó chú trọng thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Thường xuyên rà soát các chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được ban hành để lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời thành các chương trình, kế hoạch, quy chế, quy định và tổ chức thực hiện phù hợp với quy định và tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị; tăng cường theo dõi, đánh giá hiệu quả sau ban hành để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kịp thời phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập để đề xuất sửa đổi, bổ sung.
Kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản để thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp; quản lý cán bộ, công chức, viên chức; kiểm soát tài sản, thu nhập cua người có chức vụ, quyền hạn; thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế và trong các vụ việc được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra; xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc; giám định tư pháp, định giá tài sản trong tố tụng hình sự; thực hành tiết kiệm chống lãng phí; bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; báo chí và truyền thông; quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; hợp tác công tư; xã hội hóa dịch vụ công; ngân hàng; quy hoạch; xử lý các khó khăn, vướng mắc trong các dự án tồn đọng, kéo dài.
Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 07/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới; Quy định số 178-QĐ/TW, ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; Kết luận số 119-KL/TW, ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật; Luật số 64/2025/QH15, ngày 19/02/2025 của Quốc hội về ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tăng cường tính chủ động, sáng tạo, tích cực đề cao trách nhiệm, sự phối hợp của các chủ thể trong công tác thể chế hóa, cụ thể hóa đảm bảo mọi chủ trương, đường lối, quy định của Đảng phải được thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ.
Ba là, các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch, phân công rõ trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Bốn là, Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, khuyến khích sự tham gia tích cực của các chuyên gia, nhà khoa học và Nhân dân trong công tác thể chế hóa và cụ thể hóa thành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương; chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, thành thạo chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp.
Năm là, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong công tác thể chế hóa và cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương. Kịp thời khen thưởng tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác thể chể hóa, cụ thể hóa.
Sáu là, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và các cơ quan, đơn vị có liên quan tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tham mưu xây dựng, ban hành văn bản của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực bảo đảm đồng bộ, toàn diện, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm, tính dự báo, bám sát thực tiễn, rõ trách nhiệm và nguồn lực thực hiện...
Kế hoạch này được triển khai đến chi bộ và thay thế các kế hoạch, văn bản có liên quan đã ban hành trước đây.
12. Kế hoạch số 90-KH/TU, ngày 15/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị của tỉnh trong giai đoạn mới
Kế hoạch nhằm tiếp tục quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương về đổi mới phương thúc lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất và toàn diện trong phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng đối với hệ thống chính trị trong tình hình mới. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp, thường xuyên, hiệu lực, hiệu quả của Đảng đối với hệ thống chính trị; đồng thời phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, khắc phục triệt để tình trạng ban hành nghị quyết dàn trải, thiếu tính khả thi; hạn chế tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo; nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Gắn đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Đồng thời, tạo cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực thực tiễn cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của tỉnh.
Việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới phải quán triệt sâu sắc các quan điểm sau:
(1) Kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp đối với hệ thống chính trị; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, xuyên suốt từ tỉnh đến cơ sở. Đổi mới phương thức lãnh đạo không làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng mà nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới.
(2) Chuyển mạnh từ lãnh đạo chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính sang lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, chủ trương, nghị quyết; bằng cơ chế, chính sách và kiểm tra, giám sát. Bảo đảm phương thức lãnh đạo rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm, đề cao tính hành động, tính khả thi và hiệu quả thực tiễn.
(3) Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý giữa các cấp, các ngành; gắn quyền hạn với trách nhiệm, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Đồng thời, tăng cường kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm mọi hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và quy định của Đảng.
(4) Đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, chất lượng phục vụ Nhân dân, hiệu lực quản lý nhà nước và sự phát triển kinh tế - xã hội. Khắc phục triệt để tình trạng hình thức, dàn trải, thiếu thực chất trong lãnh đạo, chỉ đạo.
(5) Bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân. Mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, tiếp thu ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết.
(6) Đổi mới phương thức lãnh đạo phải gắn chặt với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Kế hoạch đề ra mục tiêu là tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng đối với hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Giữ vững nguyên tắc của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp ủy, tô chức đảng và cán bộ, đảng viên, của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Xây dựng phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể thực sự khoa học, dân chủ, sát với thực tiễn; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy thông suốt từ tỉnh đến cơ sở.
Kế hoạch đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp gồm: (1) Đổi mới, nâng cao chất lượng cụ thể hóa, ban hành văn bản và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương, nghị quyết của Đảng; (2) Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động; (3) Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức, cán bộ; (4) Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; (5) Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của cơ quan lãnh đạo của cấp ủy.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo: (1) Các đảng ủy trực thuộc căn cứ vào Kế hoạch này và tình hình thực tế của đảng bộ đề ra kế hoạch chỉ đạo thực hiện ở địa phương, cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; (2) Các cơ quant ham mưu, giúp việc Tỉnh ủy theo chức năng, nhiệm vụ tham mưu Ban Thường Tỉnh ủy theo dõi, cụ thể hóa chỉ đạo thực hiện các nội dung về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong công tác tuyên truyền, vận động; công tác tổ chức, cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát; nâng cao chất lượng tham mưu, cụ thể hóa thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng; (3) Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy, các cơ quan liên quan giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; định kỳ tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy báo cáo sơ kết, năm 2030 tổng kết kết quả thực hiện.
13. Công văn số 455-CV/TU, ngày 22/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy chủ trương về công tác cán bộ
Công văn nêu rõ: Căn cứ Kết luận số 187-KL/TW, ngày 29/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị: Kết luận số 27-KL/TW, ngày 24/4/2026 của Ban Bí thư về tình hình chủ yếu các địa phương quý I, phương hướng, nhiệm vụ quý II/2026; Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 08/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu tình hình mới;
Nhằm thực hiện hiệu quả chủ trương “năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở”, từng bước kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời chủ động rà soát, bổ sung, sắp xếp, điều động đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phó còn vượt số lượng quy định tại các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh về cấp xã theo lộ trình thực hiện đến năm 2030 bảo đảm đúng quy định, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc và các cơ quan, đơn vị liên quan triên khai thực hiện nghiêm các nội dung sau:
Một là, tạm dừng việc bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử từ nguồn nhân sự tại chỗ đối với các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp tỉnh, cấp xã thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý. Đối với trường hợp thực sự cần thiết, việc xem xét quyết định thực hiện do cấp có thẩm quyền quyết định.
Hai là, tiếp tục thực hiện nghiêm chủ trương bí thư đảng ủy cấp xã không là người địa phương.
Ba là, giao Ban Tổ chức Tỉnh ủy phối hợp với Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan, đơn vị liên quan rà soát thật kỹ số lượng cấp phó và cán bộ cấp trưởng phòng, phó trưởng phòng, chuyên viên các sở, ban, ngành tỉnh hiện nay còn dôi dư; qua đó, căn cứ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác của từng người, tham mưu Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy phương án phân công, điều động về cấp xã ở những nơi còn thiếu nhân sự; ưu tiên bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh, khả năng chịu áp lực và kinh nghiệm xử lý tình huống về công tác tại các địa bàn phức tạp, khối lượng công việc lớn...
Đồng thời, tham mưu xem xét, bố trí, sắp xếp phù hợp với các trường hợp cán bộ hạn chế về năng lực, không phù hợp với vị trí việc làm, sở trường công tác, những nơi có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, hiệu quả hoạt động chưa cao. Sau khi thực hiện bố trí cán bộ từ cấp tỉnh xuống cơ sở, nếu còn thiếu nhân sự thì mới xét chọn để bổ sung thêm biên chế cho từng xã. Tuyệt đối không xét chọn vào biên chế cho đủ số luợng nhưng không đúng chuyên môn, nghiệp vụ hoặc không còn chỗ để điều động, bố trí cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ ở các sở, ngành cấp tỉnh xuống cấp xã. Hoàn thành việc rà soát, tham mưu phương án thực hiện sắp xếp cán bộ trong tháng 6/2026.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nghiêm túc quán triệt thực hiện; trong quá trình thực hiện có khó khăn, vướng mắc, kịp thời báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tổ chức Tỉnh ủy) để xem xét, chỉ đạo.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang

Tác giả: Tuong Mai Van

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây