THÔNG TIN NỘI BỘ

http://noibo.angiang.dcs.vn


Văn bản mới (số tháng 4 năm 2026)

Các tập thể có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang tặng bằng khen.

Các tập thể có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang tặng bằng khen.

 
1. Kết luận số 09-KL/TW, ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Theo đó, tại phiên họp ngày 27/02/2026, sau khi nghe Đảng ủy Bộ Tư pháp báo cáo về Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” và ý kiến của các cơ quan có liên quan, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương thông qua Đề án và nhấn mạnh những nội dung sau:
Một là, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống pháp luật của nước ta không ngừng được hoàn thiện. Tuy nhiên, về phương diện cấu trúc, hệ thống pháp luật hiện hành còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; tính thống nhất nội tại có phần còn hạn chế; trật tự thứ bậc hiệu lực pháp lý có trường hợp chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Để tạo nền tảng pháp lý vững chắc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế liên tục trên 10% hằng năm, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045, đòi hỏi phải nghiên cứu, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam.
Mục tiêu của việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật là tạo lập được cấu trúc hệ thống pháp luật hiện đại, hợp lý, khoa học, bao quát đầy đủ các lĩnh vực đời sống xã hội, làm tiền đề để xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, tinh gọn, thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, thúc đẩy kiến tạo phát triển và đưa pháp luật thành lợi thế cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn tới.
Hai là, việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật cần bảo đảm các định hướng sau:
(1) Cấu trúc hệ thống pháp luật được xác định theo thứ bậc từ các nguồn luật, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp; văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của các cơ quan Trung ương; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương) và các nguồn bổ trợ (án lệ, tập quán, lẽ công bằng).
Mở rộng phạm vi áp dụng và xác định rõ giá trị pháp lý của các nguồn bổ trợ, theo hướng án lệ, tập quán, lẽ công bằng được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội chưa được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoặc chưa được quy định rõ ràng trong một số trường hợp cụ thể. Bổ sung nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề theo hướng ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành so với quy phạm pháp luật chung.
Đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo hướng mỗi chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ ban hành một hình thức văn bản quy phạm pháp luật với lộ trình thực hiện phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Các văn bản quy phạm pháp luật phải quy định rõ mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, hiệu lực áp dụng, quy định chuyển tiếp..., nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn xây dựng và thi hành pháp luật. Hạn chế việc ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Không ban hành một văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác khi các văn bản đó không có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung hoặc không cùng điều chỉnh một nhóm lĩnh vực.
(2) Xác định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư trong xây dựng pháp luật. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức (quy phạm pháp luật công) được thiết kế cụ thể, chặt chẽ, minh bạch, bảo đảm thực hiện tốt chức năng trao thẩm quyền đủ mạnh cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước, đồng thời kiểm soát hiệu quả, phòng ngừa nguy cơ lạm dụng, lợi dụng quyền lực. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể là các cá nhân, tổ chức không mang quyền lực nhà nước (quy phạm pháp luật tư) được thiết kế theo hướng chủ yếu đặt ra khung pháp lý mang tính nguyên tắc; các nội dung cụ thể để các chủ thể tự thoả thuận trên cơ sở nhu cầu, lợi ích, quyền tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của mình trên tinh thần không vi phạm điều cấm của luật, phát huy tính năng động, sáng tạo của người dân, doanh nghiệp, tạo động lực quan trọng để huy động mọi nguồn lực, khơi dậy mọi tiềm năng phục vụ phát triển đất nước.
Thực hiện nghiêm nguyên tắc “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật”, Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất; một số bộ luật, luật có tính nền tảng là trung tâm của hệ thống pháp luật, bao gồm: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính. Trong các văn bản luật có tính nền tảng, ngoài các quy định chi tiết, cụ thể, còn có các nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng các văn bản luật còn lại trong hệ thống pháp luật.
Đẩy mạnh việc hoàn thiện quy định pháp luật phục vụ kiến tạo phát triển, phát huy vai trò dẫn dắt, “đi trước mở đường” của pháp luật, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh. Chú trọng ban hành các chính sách đặc thù, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nhằm hình thành các lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất, lĩnh vực kinh tế mới và khuyến khích, thúc đẩy phát triển ngành, nghề, các địa bàn, nhóm đối tượng được xác định ưu tiên phát triển. Ưu tiên ban hành các quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp và các quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN vào năm 2028. Phân định rõ những nội dung phải được quy định bằng luật và những nội dung được quy định trong từng loại văn bản dưới luật theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nghiên cứu bổ sung một số nội dung cần được quy định trong văn bản luật liên quan đến hạn chế quyền, đặt ra nghĩa vụ mới, biện pháp chế tài đối với người dân, doanh nghiệp.
(3) Tiến hành tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; tuyệt đối không để cài cắm lợi ích, tác động tiêu cực đến cấu trúc hệ thống pháp luật; đổi mới mạnh mẽ công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật theo hướng văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật, được trình và đăng tải đồng thời với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung.
Hoàn thiện cơ chế giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và cơ chế hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật theo hướng xác định rõ chủ thể có thẩm quyền, nguyên tắc, quy trình giải thích và hướng dẫn áp dụng.
Nghiên cứu cơ chế đẩy nhanh việc thể chế hoá chủ trương, định hướng của Đảng thành pháp luật. Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội trong hoạt động lập pháp theo hướng tăng hợp lý số kỳ họp của Quốc hội, nhất là thông qua hình thức trực tuyến, gắn với phát huy vai trò của đại biểu Quốc hội chuyên trách, các đoàn đại biểu Quốc hội. Trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nghiên cứu cơ chế cho phép Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ được ban hành văn bản điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được hoặc điều chỉnh nội dung mang tính kỹ thuật để giải quyết ngay một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Đẩy mạnh truyền thông chính sách, pháp luật; chăm lo xây dựng đội ngũ người làm công tác tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật; tăng cường tính chuyên nghiệp trong công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng cơ chế đánh giá văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành; đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
2. Nghị định số 31/2026/NĐ-CP, ngày 21/01/2026 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ.
Nghị định gồm 4 Chương, 22 Điều quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ, bao gồm: hành vi vi phạm hành chính về thực hiện nghiệp vụ lưu trữ và về hoạt động dịch vụ lưu trữ; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể của các chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lưu trữ. Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến tài liệu bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình. Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực lưu trữ không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.
Theo đó, đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Tổ chức là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này bao gồm: cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm hành chính mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước về lưu trữ; đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã; các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.
Theo Nghị định, các hình thức xử phạt chính trong lĩnh vực lưu trữ bao gồm:  cảnh cáo và phạt tiền, trong đó mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 30 triệu đồng, đối với tổ chức là 60 triệu đồng. Ngoài ra, hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề lưu trữ có thời hạn từ 03 đến 06 tháng. Nghị định cũng quy định nhiều biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục tình trạng ban đầu, bảo đảm an toàn, toàn vẹn của tài liệu lưu trữ.
Nghị định quy định cụ thể các hành vi vi phạm và mức xử phạt tương ứng, tập trung vào các nhóm hành vi như: vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lưu trữ; vi phạm quy định về thu nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ hiện hành và lưu trữ lịch sử; vi phạm quy định về chỉnh lý, bảo quản, hủy và sử dụng tài liệu lưu trữ; vi phạm quy định về số hóa tài liệu, tạo lập cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng Chứng chỉ hành nghề lưu trữ và Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ.
Nghị định quy định mức phạt cao đối với các hành vi xâm hại nghiêm trọng đến tài liệu lưu trữ như: mang tài liệu lưu trữ ra ngoài trái phép; truy cập, sao chép, chia sẻ, mua bán, hủy tài liệu lưu trữ trái phép; làm mất, làm hỏng hoặc làm sai lệch nội dung tài liệu lưu trữ. Đối với lĩnh vực số hóa và quản lý dữ liệu lưu trữ, Nghị định bổ sung nhiều quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, phòng ngừa nguy cơ mất mát, thất thoát dữ liệu.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thanh tra các bộ, ngành, Giám đốc Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ kiểm tra trong lĩnh vực lưu trữ, bảo đảm phù hợp với quy mô, tính chất, mức độ vi phạm và yêu cầu quản lý nhà nước.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/3/2026. 
3. Chương trình hành động số 16-CTr/TU, ngày 05/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Chương trình đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:
Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: (1) Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; (2) Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức, kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác dân vận; (3) Vận hành chính quyền địa phương 02 cấp.
Về phát triển kinh tế - xã hội: (1) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách ưu tiên thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững; (2) Cơ cấu lại nền kinh tế trên cơ sở phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh sẵn có; đồng thời xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng, thúc đẩy liên kết để phát triển; (3) Phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính để đột phá phát triển; (4) Thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; (5) Phát huy mạnh mẽ giá trị truyền thống, văn hóa, con người An Giang trong giai đoạn mới; (6) Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; (7) Quan tâm chăm sóc sức khỏe Nhân dân; bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh con người.
Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: (1) Tăng cường xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, an ninh biên giới quốc gia; giữ vững thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Nâng cao nhận thức của hệ thống chính trị về nhiệm vụ diễn tập khu vực phòng thủ; (2) Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Tăng cường đối ngoại trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, làm tốt công tác đối ngoại quân sự, đối ngoại nhân dân, tạo môi trường hòa bình, ổn định. Hoàn thành việc phân giới, cắm mốc biên giới; tìm kiếm, quy tập hài cốt quân tình nguyện hy sinh trên đất bạn Cam-pu-chia.
Đối với các đầu công việc thực hiện chỉ tiêu chủ yếu, các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá
Về thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: (1) Chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống có hiệu quả những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái, cục bộ, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; (2) Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới; (3) Tập trung hoàn thiện vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức làm cơ sở để đổi mới, tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức; (4) Xây dựng Đề án số hóa tài liệu quản lý và sử dụng hiệu quả trụ sở, tài sản sau sắp xếp tổ chức bộ máy.
Ngoài các nhóm nhiệm vụ nêu trên, Tỉnh ủy tiếp tục theo dõi, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chương trình, nghị quyết, kết luận, chỉ đạo mới của Trung ương được ban hành trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở đó, rà soát, cập nhật, bổ sung và điều chỉnh Chương trình hành động thực hiện của tỉnh cho phù hợp, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với các chủ trương, định hướng của Trung ương và sát hợp với điều kiện tình hình thực tế của địa phương nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đề ra.
Về thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030: (1) Về thực hiện 03 đột phá: 03 đầu việc chính. (2)  Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: 09 đầu việc chính. (3) Về phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường: 12 đầu việc chính. (4) Về phát triển văn hóa, xã hội, con người: 03 đầu việc chính. (5) Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: 07 đầu việc chính...
4. Công văn số 317-CV, ngày 09/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo triển khai thực hiện Chỉ thị số 56-CT/TW của Ban Bí thư
Theo đó, để thực hiện tốt Chỉ thị số 56-CT/TW, ngày 24/12/2025 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ký kết, thực hiện các cam kết quốc tế; Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ sau:
Một là, tổ chức tuyên truyền, quán triệt đầy đủ, sâu rộng nội dung Chỉ thị số 56-CT/TW của Ban Bí thư đến toàn thể cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác ký kết và thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế; xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn chặt với hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong từng giai đoạn.
Hai là, nêu cao trách nhiệm, tinh thần chủ động của các cơ quan, đơn vị trong việc đề xuất ký kết và tổ chức thực hiện các thỏa thuận quốc tế; tạo chuyển biến thực chất, rõ nét trong cả khâu chuẩn bị, ký kết và triển khai thực hiện. Chủ động rà soát toàn bộ các thỏa thuận quốc tế đã ký kết thuộc phạm vi quản lý; đánh giá mức độ thực hiện, hiệu quả đạt được, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện các cam kết quốc tế; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị, tránh trùng lặp, chồng chéo; nghiên cứu thành lập các tổ, nhóm công tác liên ngành đối với các thỏa thuận có tính chất đa ngành, đa lĩnh vực, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Ba là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược; chủ động tham mưu, đề xuất chủ trương ký kết và triển khai các thỏa thuận quốc tế phù hợp với khả năng, điều kiện, nhu cầu và lợi ích của tỉnh. Tích cực nghiên cứu đối tác, thị trường, xu thế hợp tác; lựa chọn nội dung hợp tác thiết thực, hiệu quả, ưu tiên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, du lịch, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực và các lĩnh vực tỉnh có tiềm năng, lợi thế. Chịu trách nhiệm về nội dung, tính khả thi và hiệu quả của các thỏa thuận quốc tế; xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể, phân công rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và lộ trình triển khai.
Bốn là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng đối với công tác ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện, bảo đảm đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Năm là, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 56-CT/TW của Ban Bí thư, xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch cụ thể đến từng cơ quan, đơn vị, địa phương, bảo đảm tính thiết thực, khả thi và phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh.
Kịp thời chỉ đạo cơ quan chuyên môn ban hành văn bản hướng dẫn về công tác ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế, nhất là đối với các xã biên giới, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về thỏa thuận quốc tế; tăng cường sử dụng các phân mềm quản lý, theo dõi, lưu trữ, thống kê, đánh giá hiệu quả thực hiện, bảo đảm không bỏ sót, chồng chéo, lãng phí nguồn lực. Quan tâm bố trí nguồn lực phù hợp; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên sâu về luật pháp quốc tế, kinh tế quốc tế, quan hệ quốc tế và các lĩnh vực chuyên ngành; chủ động trao đổi, xin ý kiến các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các thỏa thuận quốc tế.
5. Chương trình hành động số 17-CTr/TU, ngày 13/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
Chương trình đề ra các mục tiêu, như sau:
Về mục tiêu tổng quát: Quán triệt đầy đủ 05 quan điểm Nghị quyết số 20-NQ/TW để thống nhất tư tưởng, nhận thức và hành động về bản chất, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế tập thể phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, an ninh, trật tự an toàn xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, đi đôi với vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, gắn với phát huy tốt sức mạnh của tập thể để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế tập thể mà Nghị quyết số 20-NQ/TW đề ra.
Phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả, bền vững, thu hút càng nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia; góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của các thành viên, hộ gia đình, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Về mục tiêu cụ thể:
Đến năm 2030: Toàn tỉnh có khoảng 4.109 tổ hợp tác với 82.000 thành viên; 973 hợp tác xã với 192.000 thành viên; 06 liên hiệp hợp tác xã với 50 hợp tác xã thành viên. Phấn đấu phát triển mô hình Liên đoàn hợp tác xã lúa, gạo Đồng bằng sông Cửu Long. Số hợp tác xã hoạt động đạt loại tốt, khá trên 60% tổng số hợp tác xã của tỉnh, trong đó có ít nhất 50% tham gia liên kết theo chuỗi giá trị.
Tỷ lệ cán bộ quản lý hợp tác xã tốt nghiệp cao đẳng, đại học đạt ít nhất 25 - 30%. Thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2030 toàn tỉnh có trên 125 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản; thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với hàng hóa nông sản. Phát triển các chuỗi giá trị nông sản hàng hóa gắn với liên kết sản xuất, cung cấp dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh tham gia vào các chuỗi cung ứng đưa sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài. Phấn đấu xử lý dứt diểm các hợp tác xã đã ngừng hoạt động.
Đến năm 2045: Phấn đấu thu hút tối thiểu 20% dân số tham gia các tổ chức kinh tế tập thể. Bảo đảm trên 90% tổ chức kinh tế tập thế hoạt động hiệu quả, trong đó có ít nhất 75% tham gia các chuỗi liên kết. Tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và hợp tác xã, phấn đấu có khoảng 90% hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị. Mở rộng quy mô hoạt động của các tổ chức kinh tế tập thể, chất lượng hoạt động ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới. Tiếp tục củng cố, đổi mới và phát triển khu vực kinh tế tập thể theo hướng tăng quy mô, tăng chất lượng và hiệu quả hoạt động. Trong đó, phấn đấu duy trì ổn định số lượng và mở rộng hoạt động của các tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp; duy trì ít nhất 06 liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong nông nghiệp. Các tổ chức kinh tế tập thể đều áp dụng công nghệ, nhất là chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Phấn đầu không còn hợp tác xã ngừng hoạt động.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp sau: (1) Nhận thức đúng, đầy đủ về bản chất, vị trí, vai trò và tầm quan trọng của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể; (3) Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế tập thể; (4) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể; (5) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và Liên minh Hợp tác xã đối với phát triển kinh tế tập thể.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo:
(1) Các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Tỉnh ủy, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh tổ chức quán triệt Nghị quyết số 20-NQ/TW và Chương trình hành động này đến toàn thể đảng viên, cán bộ, công chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; xây dựng văn bản cụ thể hóa thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy phù hợp với chức năng, đặc điểm tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị; định kỳ hằng năm sơ kết rút kinh nghiệm, bổ sung kế hoạch thực hiện trong thời gian tới.
(2) Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa thực hiện Chương trình hành động này của Tỉnh ủy; bố trí ngân sách nhà nước trung hạn và hằng năm hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, tạo điều kiện thuận lợi cho phân bổ và tập trung nguồn lực phát triển kinh tế tập thể; định kỳ hằng năm đánh giá kết quả thực hiện, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh theo quy định.
(3) Đảng ủy Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội theo chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Nghị quyết số 20-NQ/TW và Chương trình hành động của Tỉnh ủy đến đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân với các hình thức phù hợp; theo dõi, giám sát việc thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy.
(4) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy định hướng công tác tuyên truyền cho cơ quan thông tin đại chúng; xây dựng kế hoạch tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân để nâng cao nhận thức và đồng thuận khi triển khai Nghị quyết số 20-NQTW và Chương trình hành động này.
(5) Đảng ủy Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh nghiên cứu rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định, chính sách liên quan đến hỗ trợ, phát triển kinh tế tập thể đảm bảo phù hợp với từng giai đoạn và đúng quy định; tăng cường giám sát việc thực hiện.
(6) Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy theo chức năng, nhiệm vụ thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc triển khai thực hiện; định kỳ báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Văn phòng Tỉnh ủy) theo quy định.
 Chương trình hành động này thay thế các chương trình, kế hoạch có liên quan.
6. Chương trình hành động số 18-CTr/TU, ngày 13/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
Chương trình đề ra các mục tiêu, như sau:
Mục tiêu tổng quát: Quán triệt đầy đủ các quan điểm của Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới. Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn về số lượng, mạnh về chất lượng, năng động, sáng tạo, năng lực quản trị tiên tiến, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, văn hóa kinh doanh mang bản sắc dân tộc; có trách nhiệm xã hội, ý thức bảo vệ môi trường, đóng góp xứng đáng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của đất nước.
Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu đến năm 2030: Phát triển đội ngũ doanh nhân trong tỉnh lớn mạnh, có năng lực và trình độ đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Toàn tỉnh có ít nhất 26.000 doanh nghiệp đang hoạt động và ngày càng có nhiều doanh nghiệp đạt tầm khu vực; một số doanh nghiệp lớn có vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt; có nhiều doanh nghiệp khu vực tư nhân tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Tầm nhìn đến năm 2045: Phát triển đội ngũ doanh nhân của tỉnh có quy mô, năng lực và trình độ đáp ứng mục tiêu quốc gia phát triển, thu nhập cao, có vị thế, uy tín khu vực và quốc tế.
Để đạt được mục tiêu đề ra, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề ra, gồm: (1) Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân trong thực hiện mục tiêu phát triển của tỉnh, đất nước; (2) Thực hiện tốt chính sách, pháp luật, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, an toàn, bình đẳng cho doanh nhân, doanh nghiệp phát triển và cống hiến; (3) Phát triển đội ngũ doanh nhân của tỉnh lớn mạnh ngang tầm mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong thời kỳ mới; (4) Xây dựng đạo đức, văn hóa kinh doanh, phát huy tinh thần dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; (5) Tăng cường đoàn kết, hợp tác, liên kết giữa doanh nhân với công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; (6) Phát huy vai trò của các tổ chức đại diện đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp; (7) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ doanh nhân...
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo:
(1) Các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy theo chức năng, nhiệm vụ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quán triệt Nghị quyết số 41-NQTW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động này của Tỉnh ủy bằng văn bản cụ thể với các nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình phù hợp và phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thực hiện.
(2) Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện Chương trình hành động này của Tỉnh ủy, xác định lộ trình, phân công rõ trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị liên quan, đảm bảo thực hiện đạt được mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đề ra; định kỳ tham mưu sơ kết, tổng kết, báo cáo kết quả thực hiện với Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo quy định.
(3) Đảng ủy Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh định hướng nội dung để các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp, động viên, tôn vinh doanh nhân tiêu biểu; giám sát, phản biện xã hội, phát huy vai trò đội ngũ doanh nhân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
(4) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động này của Tỉnh ủy.
(5) Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy theo chức năng, nhiệm vụ thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc triển khai thực hiện; định kỳ báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Văn phòng Tỉnh ủy) theo quy định.
Chương trình hành động này được phổ biến đến chi bộ và tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng; thay thế các chương trình có liên quan đã ban hành trước đây.
7. Hướng dẫn số 29-HD/BTGDVTU, ngày 06/3/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy về tổ chức sinh hoạt Chuyên đề “Đảng viên tiên phong trong học tập kỹ năng số”.
Hướng dẫn có những nội dung chủ yếu sau:
Về chủ đề sinh hoạt: “Đảng viên tiên phong học tập kỹ năng số”.
Về hình thức tổ chức:
(1) Sinh hoạt Chuyên đề “Đảng viên tiên phong học tập kỹ năng số” được thực hiện tại chi bộ ít nhất 01 lần trong năm 2026. Công tác chuẩn bị và các bước tiến hành sinh hoạt thực hiện theo Hướng dẫn số 42-HD/BTCTW, ngày 28/10/2025 của Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 23/7/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới.
 (2) Trong buổi sinh hoạt, báo cáo viên trình bày lần lượt các nội dung, có thể chia thành từng phần để thảo luận hoặc thảo luận chung sau khi trình bày toàn bộ. Khuyến khích sử dụng trình chiếu PowerPoint, video clip minh họa ngắn... để tăng tính trực quan. Sau phần báo cáo, tất cả đảng viên tham gia đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm thực tế, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng số, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tại địa phuơng, cơ quan, đơn vị. Người chủ trì tổng hợp các ý kiến thảo luận, làm rõ những vấn đề còn vướng mắc, định hướng những việc chi bộ và từng đảng viên cần thực hiện sau buổi sinh hoạt.
(3) Tùy điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị, có thể tăng cường tổ chức các hình thức sinh hoạt khác như hội thi, hội thảo, tọa đàm hoặc lồng ghép vào các buổi sinh hoạt của các hội, đoàn thể, góp phần bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, đảng viên một cách bài bản, thiết thực và phù hợp theo từng đối tượng, từng vị trí công tác.
Về nội dung sinh hoạt chuyên đề:
(1) Căn cứ nội dung Đề cương tài liệu gửi kèm, các địa phương, cơ quan, đơn vị chủ động triển khai thực hiện phù hợp; trong đó cần tập trung phổ biến, quán triệt ý nghĩa của việc chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay và định hướng cho giai đoạn tiếp theo đối với sự phát triển của đất nước, của tỉnh. Nhấn mạnh vai trò của kỹ năng số đối với mỗi cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hiện nay, xem kỹ năng số là một yêu cầu bắt buộc để nâng cao hiệu quả công tác và phục vụ Nhân dân. Đồng thời xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị phải vào cuộc một cách quyết liệt, tập trung chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực để hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Chuyên đề tập trung vào hai nội dung trọng tâm sau:
- Các văn bản của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số.
- Gợi ý các kỹ năng số cho đảng viên, tập trung vào 07 vấn đề trọng tâm như: Nhận thức số - Kỹ năng tư duy trong môi trường số; Kỹ năng sử dụng các công cụ số cơ bản; Kỹ năng làm việc, trao đổi trong môi trường số; Kỹ năng tra cứu, khai thác và xử lý thông tin số; Kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) một cách có trách nhiệm trong công tác; Tự học suốt đời và phát triển năng lực số cá nhân; Kỹ năng an toàn - bảo mật số.
(2) Phát huy vai trò gương mẫu của đảng viên trong học tập và ứng dụng kỹ năng số, sử dụng các tác nghiệp chuyên môn. Thảo luận về cách vận dụng những kỹ năng số vào thực tiễn công tác của đảng viên, cơ quan, đơn vị ở từng lĩnh vực. Nội dung thảo luận gợi mở để mỗi đảng viên xác định rõ trách nhiệm cá nhân trong quá trình thúc đẩy chuyển đổi số tại cơ quan, đơn vị địa phương.
Để thực hiện tốt nội dung trên, đảng ủy các xã, phường, đặc khu; đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức sinh hoạt chuyên đề theo hướng dẫn; gắn nội dung sinh hoạt chuyên đề với nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề của các chi bộ, đảng bộ cơ sở. Chỉ đạo chuẩn bị nội dung, chương trình, huy động sự tham gia của đảng viên (kể cả đảng viên dự bị). Sau sinh hoạt chuyên đề, chi bộ tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm và đề ra kế hoạch nâng cao kỹ năng số cho đảng viên và việc áp dụng chuyển đổi số trong chi bộ. Kết quả tổ chức sinh hoạt chuyên đề là một tiêu chí để đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ và xếp loại tổ chức đảng, đảng viên cuối năm.
Định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm, hoặc đột xuất, các cấp ủy báo cáo đánh giá kết quả tổ chức sinh hoạt chuyên đề về Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy. Nội dung báo cáo cần thể hiện số lượng chi bộ thực hiện, tỷ lệ đảng viên tham gia, nội dung trọng tâm thảo luận, giới thiệu các gương điển hình tiêu biểu trong học tập, ứng dụng kỹ năng số; những kiến nghị đề xuất (nếu có).
Báo và Phát thanh - Truyền hình An Giang mở chuyên trang, chuyên mục, xây dựng phóng sự, tin bài, đẩy mạnh tuyên truyền về đợt sinh hoạt Chuyên đề “Đảng viên tiên phong học tập kỹ năng số”; kịp thời phản ánh những gương điển hình, nhân tố mới, những cách làm hay, sáng tạo để nhân rộng.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang

Tác giả: Tuong Mai Van

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây