Văn bản mới (số tháng 3 năm 2026)
- Thứ sáu - 27/02/2026 21:29
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Đại biểu biểu quyết tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
1. Quy định số 01-QĐ/TW, ngày 03/02/2026 của Bộ Chính trị về chế độ đảng phí. Quy định gồm có 8 điều và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2026; thay thế Quy định về chế độ đảng phí ban hành kèm theo Quyết định số 342-QĐ/TW, ngày 28/12/2010 của Bộ Chính trị; được phổ biến đến các tổ chức đảng, đảng viên trong toàn Đảng. Một số nội dung chủ yếu của quy định gồm:
Theo Quy định, đóng đảng phí là nhiệm vụ của đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng. Đảng viên có trách nhiệm báo cáo trung thực với chi bộ về thu nhập của mình làm căn cứ đóng đảng phí theo quy định. Trừ các trường hợp được chậm đóng hoặc đóng trước đảng phí theo quy định tạiKhoản 2, Điều 5 của Quy định này, đảng viên ở trong nước (gồm cả đảng viên dự bị) đóng đảng phí hằng tháng trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc đóng bằng tiền mặt trực tiếp cho chi bộ.
Chi bộ xem xét, đề nghị cấp ủy có thẩm quyền quyết định xóa tên trong danh sách đảng viên đối với trường hợp đảng viên không đóng đảng phí ba tháng trong năm mà không có lý do chính đáng. Trừ các trường hợp bất khả kháng, việc thu, nộp đảng phí của tổ chức đảng các cấp đều phải thực hiện trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia theo quy định, lộ trình, hướng dẫn của Văn phòng Trung ương Đảng. Tổ chức đảng cấp trên có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ tổ chức đảng cấp dưới xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện thu, nộp đảng phí trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Tổ chức đảng các cấp được mở tài khoản tại ngân hàng để thực hiện thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền đảng phí. Tổ chức đảng quyết định hình thức quản lý số dư tiền đảng phí được để lại của mình (bằng tiền mặt hoặc trên tài khoản ngân hàng, kho bạc), bảo đảm an toàn, chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu tổ chức đảng.
Quy định cũng nêu rõ việc quản lý, sử dụng đảng phí. Cụ thể:
Đối với Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, các đảng ủy cấp trên cơ sở xã, phường, đặc khu lập quỹ dự trữ ngân sách đảng từ số đảng phí được để lại cấp ủy và các nguồn thu khác theo quy định. Quỹ dự trữ ngân sách đảng được sử dụng để chi phục vụ hoạt động của cấp ủy, hỗ trợ cho các tổ chức đảng cấp dưới có khó khăn về kinh phí hoạt động và các nhiệm vụ chi khác theo quyết định của cấp ủy.
Đối với các tổ chức đảng còn lại, đảng phí được để lại của tổ chức đảng được cân đối vào nguồn kinh phí hoạt động của tổ chức đảng; cuối năm chưa sử dụng hết thì được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng. Trường hợp tổng các nguồn thu của tổ chức đảng đã bảo đảm được đủ kinh phí hoạt động, tổ chức đảng được sử dụng số đảng phí được để lại để hỗ trợ cho các tổ chức đảng cấp dưới có khó khăn về kinh phí hoạt động.
Trường hợp tổ chức đảng giải tán, giải thể: Số đảng phí chưa sử dụng hết được nộp về tổ chức đảng cấp trên trực tiếp.
Trường hợp tổ chức đảng sáp nhập, hợp nhất với tổ chức đảng khác: Số đảng phí chưa sử dụng hết được chuyển về tổ chức đảng hình thành sau khi sáp nhập, hợp nhất.
Trường hợp tổ chức đảng chia tách hoặc các trường hợp khác: Tổ chức đảng báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp (từ cấp cơ sở trở lên) xem xét, quyết định xử lý số đảng phí chưa sử dụng hết cho phù hợp với tình hình thực tiễn.
Chi bộ phân công một đồng chí (bí thư, phó bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên) chỉ đạo thường xuyên công tác thu, nộp đảng phí của chi bộ, xét duyệt số đảng phí phải đóng của từng đảng viên trong chi bộ. Chi bộ phân công một đồng chí trực tiếp thu đảng phí của đảng viên đóng đảng phí bằng tiền mặt và theo dõi, đôn đốc đảng viên đóng đảng phí bằng các hình thức không dùng tiền mặt (ưu tiên bố trí bí thư, phó bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên thực hiện nhiệm vụ này). Các cấp ủy có trách nhiệm tổng hợp tình hình thu, nộp, sử dụng đảng phí của cấp mình và toàn đảng bộ, lập báo cáo gửi lên cấp ủy cấp trên. Văn phòng Trung ương Đảng có trách nhiệm tổng hợp tình hình thu, nộp, sử dụng đảng phí của toàn Đảng, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2. Quy định số 06-QĐ/TW, ngày 09/02/2026 của Ban Bí thư về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên
Trong đó, quy định rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong quản lý và sử dụng thẻ đảng viên. Cụ thể:
2.1. Trách nhiệm của đảng viên
- Đảng viên phải bảo quản, giữ gìn cẩn thận thẻ đảng viên. Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; không cho người khác mượn, sử dụng thẻ đảng viên; không được dùng thẻ đảng viên để cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố vay, mượn tiền, tài sản; không được đăng tải hình ảnh thẻ đảng viên lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc không phải thẻ của mình; không được tự hủy thẻ đảng viên.
- Nếu thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng, bị mất phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp để xem xét, đề nghị việc cấp lại thẻ đảng viên theo quy định.
- Đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xoá tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác phải nộp lại thẻ đảng viên cho chi bộ.
- Đảng viên từ trần thì gia đình của đảng viên được giữ lại thẻ đảng viên và không được sử dụng thẻ đảng viên trái với Quy định này.
- Đảng viên phát hiện thẻ đảng viên của đảng viên khác bị thất lạc hoặc có những hành vi sử dụng trái với Quy định này phải kịp thời báo cáo cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
2.2. Trách nhiệm của chi bộ, cấp ủy cơ sở
- Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm quán triệt, hướng dẫn đảng viên quản lý, sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định.
- Đề nghị cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên) cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên cho đảng viên theo quy định; tổ chức phát thẻ đảng viên tại cuộc họp chi bộ gần nhất.
- Định kỳ hằng năm tổ chức kiểm tra thẻ đảng viên tại cuộc họp kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên cuối năm; báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên) kết quả kiểm tra.
- Tiếp nhận, xác minh, báo cáo kịp thời các trường hợp mất thẻ, hỏng thẻ hoặc sử dụng thẻ đảng viên không đúng quy định lên cấp ủy cấp trên trực tiếp.
- Thu lại thẻ đảng viên khi đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xoá tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác hoặc thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng và nộp lên cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên).
- Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.
2.3. Trách nhiệm của cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên)
- Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng thẻ đảng viên của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trực thuộc.
- Xét đề nghị của chi bộ, cấp ủy cơ sở, ra quyết định cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên theo quy định. Tiếp nhận thẻ đảng viên được thu hồi từ chi bộ, cấp ủy cơ sở, gửi ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.
- Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.
- Đảng ủy Bộ Ngoại giao quản lý thẻ đảng viên khi đảng viên chuyển sinh hoạt đảng ra ngoài nước; trao lại thẻ đảng viên khi đảng viên trở về nước.
2.4. Trách nhiệm của tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương
- Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng thẻ đảng viên của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong đảng bộ.
- Chỉ đạo ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương phê duyệt danh sách cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên trước khi gửi Ban Tổ chức Trung ương để thực hiện việc in thẻ đảng viên theo quy định.
- Chỉ đạo ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương tiếp nhận thẻ đảng viên hoàn chỉnh từ Ban Tổ chức Trung ương, chuyển về các tổ chức đảng trực thuộc; tiếp nhận thẻ đảng viên được thu hồi từ các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, gửi Ban Tổ chức Trung ương để thực hiện việc hủy thẻ theo quy định.
- Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.
- Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương chịu trách nhiệm quyết định việc phát, đổi thẻ đảng viên đối với đảng viên trong lực lượng vũ trang là cán bộ tình báo hoặc được giao thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, yêu cầu phải bảo mật thông tin nhân thân...
3. Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 03/02/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới
Chỉ thị nêu rõ: Trong tiến trình phát triển đất nước, ngành vật liệu xây dựng đã đóng góp nhiều thành tựu quan trọng, năng lực sản xuất tăng mạnh, sản phẩm đa dạng, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế, đóng góp tích cực tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, phục vụ các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp sau đây:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và người dân; xác định rõ vai trò quan trọng của ngành vật liệu xây dựng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gắn với phòng, chống, thích ứng với biến đổi khí hậu, quá trình đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng tự chủ chiến lược. Phát triển ngành vật liệu xây dựng bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, gắn với nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; sản xuất và sử dụng vật liệu xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, vật liệu thay thế, vật liệu tái chế, giảm phát thải, thân thiện với môi trường.
Hai là, rà soát, hoàn thiện hệ thống quy hoạch, chiến lược về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp thực tiễn, bảo đảm sự phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ hiện đại, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu bổ sung vào danh mục quy hoạch ngành đối với phát triển một số loại vật liệu xây dựng chủ yếu: xi-măng, thép, gạch ốp lát, kính xây dựng.
Rà soát, nghiên cứu ban hành luật về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích thực chất, khả thi thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số gắn với kết quả nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành. Có chế tài đủ mạnh đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các bộ, ngành, địa phương; tiếp tục cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính liên quan đến quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng. Nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc thù bảo đảm vật liệu san lấp cho các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia.
Rà soát và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật bảo đảm phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế; tăng cường năng lực kiểm định, kiểm tra, giám sát chất lượng; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức chứng nhận, cơ quan kiểm định về vật liệu xây dựng.
Ba là, phát triển vật liệu xây dựng phải phù hợp với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, gắn với việc triển khai chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, yêu cầu nâng cao khả năng tự chủ chiến lược. Khuyến khích phát triển các loại vật liệu Việt Nam có lợi thế, vật liệu mới, kỹ thuật cao, thông minh; vật liệu xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; vật liệu tái chế trên cơ sở đánh giá hiệu quả tổng thể, lâu dài (về kinh tế, môi trường, xã hội, an ninh, quốc phòng). Đa dạng hóa chủng loại, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng các sản phẩm, bảo đảm phù hợp với các loại hình công trình, điều kiện khí hậu, đặc thù vùng miền; từng bước thay thế sản phẩm nhập khẩu, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.
Tăng cường điều tra cơ bản, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin toàn quốc liên thông, đồng bộ, thống nhất về vật liệu xây dựng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng và đẩy mạnh cấp phép thăm dò, khai thác theo quy hoạch nhằm bảo đảm nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất. Khuyến khích hình thành các khu vực chế biến khoáng sản tập trung, hiệu quả, giảm thất thoát, tiết kiệm tài nguyên.
Kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Ứng dụng triệt để các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng nhiên liệu thay thế, giảm phát thải. Sử dụng hệ thống xử lý bụi, khí thải đạt chuẩn quốc tế; kiên quyết loại bỏ các công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng lạc hậu, gây ô nhiễm, thâm dụng tài nguyên.
Kiên quyết không cấp phép nhập khẩu công nghệ, dây chuyền sản xuất cũ, không cấp phép đầu tư, mở rộng các dự án chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, thâm dụng năng lượng, tài nguyên. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực vật liệu xây dựng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, gây ô nhiễm môi trường, nhất là các trường hợp tái phạm.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu trong quản lý hoạt động thăm dò, khai thác, xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp và Nhân dân trong việc phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý vi phạm.
Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; có cơ chế đủ hấp dẫn để thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo; khuyến khích các doanh nghiệp tự nghiên cứu, tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu mới, thân thiện môi trường, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa. Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại trong sản xuất, nhất là công nghệ sản xuất ít phát thải, tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu tái chế, phế thải, sử dụng nhiệt thừa và năng lượng tái tạo. Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá việc sử dụng cát biển trong các dự án phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và yêu cầu bảo vệ môi trường. Ứng dụng rộng rãi công nghệ số trong kiểm soát chất lượng, quản lý sản xuất, logistics, giám sát, quan trắc môi trường trực tuyến, kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý. Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý có năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Năm là, đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế để thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp lớn nước ngoài đầu tư, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu - phát triển công nghệ tại Việt Nam; thúc đẩy tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng, nâng cao trình độ quản trị và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, đầu tư ra nước ngoài, hợp tác phát triển các dự án, tham gia hội chợ, giới thiệu, quảng bá thương hiệu, sản phẩm để mở rộng thị trường xuất khẩu. Theo dõi, dự báo và thông tin kịp thời diễn biến tình hình cung cầu, thị hiếu, đặc biệt là những thay đổi về yêu cầu, điều kiện nhập khẩu của các thị trường lớn trên thế giới. Quản lý hiệu quả hoạt động nhập khẩu vật liệu xây dựng, nhất là các sản phẩm trong nước đã sản xuất được; tăng cường năng lực phòng vệ thương mại.
4. Nghị định số 03/2026/NĐ-CP, ngày 09/01/2026 của Chính phủ, quy định tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Nghị định gồm 56 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:
Theo Nghị định, quỹ xã hội là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện góp một phần tài sản để thành lập hoặc thành lập thông qua di chúc, hiến, tặng cho tài sản; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ; tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, nông nghiệp, nông thôn, bảo vệ tài nguyên và môi trường, an sinh xã hội và cộng đồng.
Quỹ từ thiện là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện góp một phần tài sản để thành lập hoặc thành lập thông qua di chúc, hiến, tặng cho tài sản; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ; tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích từ thiện, nhân đạo; hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn và các đối tượng khác thuộc diện khó khăn, yếu thế cần sự trợ giúp của xã hội.
Mục đích, lĩnh vực hoạt động: Quỹ xã hội, quỹ từ thiện (quỹ) được tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích hỗ trợ, khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, nông nghiệp, nông thôn; bảo vệ tài nguyên và môi trường; cộng đồng, từ thiện, nhân đạo, an sinh xã hội; hỗ trợ các đối tượng thuộc diện khó khăn, yếu thế cần sự trợ giúp của xã hội; hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh theo quy định pháp luật.Quỹ được cấp giấy phép thành lập khi đảm bảo đủ các điều kiện sau: (1) Mục đích, lĩnh vực hoạt động theo quy định ở trên; (2) Sáng lập viên thành lập quỹ, Ban sáng lập quỹ theo quy định; (3) Ban sáng lập quỹ có đủ số tài sản đóng góp để thành lập quỹ theo quy định; (4) Hồ sơ thành lập quỹ theo quy định.
Nghị định quy định cá nhân, tổ chức nước ngoài được góp tài sản cùng công dân, tổ chức Việt Nam để thành lập quỹ ở Việt Nam. Điều kiện đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài: Phải có cam kết nộp thuế và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của tài sản đóng góp; cam kết thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Việt Nam và mục đích hoạt động của quỹ; có tài sản đóng góp thành lập quỹ theo quy định. Tài sản đóng góp thành lập quỹ của cá nhân, tổ chức nước ngoài không được vượt quá 50% tổng số tài sản đóng góp thành lập quỹ theo quy định.
Điều kiện để quỹ được hoạt động: (1) Có giấy phép thành lập và công nhận điều lệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; (2) Đã công bố về việc thành lập quỹ theo quy định; (3) Có văn bản xác nhận của ngân hàng nơi quỹ đăng ký mở tài khoản về số tiền mà từng sáng lập viên cam kết đóng góp để thành lập quỹ đã có đủ trong tài khoản của quỹ. Đối với tài sản khác, đã thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản theo quy định; (4) Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quỹ đủ điều kiện hoạt động và công nhận Hội đồng quản lý quỹ.Quỹ hoạt động theo địa giới hành chính gồm: Quỹ hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh; Quỹ hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (tỉnh); Quỹ hoạt động trong phạm vi xã, phường, đặc khu (xã).
Các hành vi bị nghiêm cấm: Nghị định nghiêm cấm lợi dụng việc thành lập và tổ chức, hoạt động của quỹ để thực hiện các hành vi sau: (1) Hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích của quỹ, làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng; gây phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, khối đại đoàn kết dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; (2) Xâm hại đạo đức xã hội, thuần phong, mỹ tục, truyền thống, bản sắc dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; (3) Tư lợi, gian dối, thực hiện, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, lập chứng từ không đúng thực tế hoặc thông đồng với tổ chức, cá nhân nhằm trốn thuế, gian lận thuế hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tài chính, thuế, kế toán trong quá trình thành lập, hoạt động của quỹ; (4) Rửa tiền, tài trợ khủng bố và các hoạt động trái pháp luật; (5) Làm giả, tẩy xóa, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, cầm cố, thế chấp giấy phép thành lập quỹ dưới bất kỳ hình thức nào; (6) Nhận tiền gửi, cho vay, góp vốn đầu tư; (7) Sử dụng ngân sách nhà nước, sử dụng hoặc hỗ trợ tài sản được ngân sách nhà nước giao hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để tham gia góp tài sản thành lập quỹ.Chính sách của Nhà nước đối với quỹ: Nhà nước tạo điều kiện để quỹ tổ chức, hoạt động theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ của quỹ; Nhà nước hỗ trợ kinh phí để quỹ thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao (nếu có). Việc đóng góp tài sản của cá nhân, tổ chức vào quỹ được áp dụng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.
5. Kế hoạch số 13-KH/BTGDVTW, ngày 13/02/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về tổ chức “Hội thi Báo cáo viên, Tuyên truyền viên giỏi toàn quốc năm 2026 tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”. Kế hoạch nêu một số nội dung quan trọng như sau:
Về phương thức tổ chức: Hội thi được tiến hành từ cấp cơ sở, tỉnh, thành phố, khu vực và chung khảo toàn quốc. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương căn cứ tình hình, điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị để tổ chức hội thi thiết thực, hiệu quả. Quân ủy Trung ương tổ chức hội thi từ cấp trung đoàn, lữ đoàn và tương đương trở lên; Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức hội thi từ cấp cục và tương đương trở lên.
Đối tượng dự thi: Báo cáo viên các cấp, tuyên truyền viên cơ sở hiện đang công tác tại các địa phương, cơ quan, đơn vị.
Về số lượng dự thi: Đối với hội thi khu vực thì các tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương lựa chọn 02 cá nhân đạt giải cao từ hội thi của ngành, địa phương mình tham gia thi khu vực. Riêng thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương được lựa chọn 03 người tham gia thi. Đối với hội thi toàn quốc: Mỗi khu vực, Ban Giám khảo lựa chọn 12 cá nhân xuất sắc tham gia Hội thi Chung khảo toàn quốc.
Về nội dung thi: Thí sinh lựa chọn nội dung gắn với cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng hoặc nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 để thi; khuyến khích liên hệ thực tiễn cơ quan, địa phương nơi thí sinh công tác, sinh sống.
Về hình thức thi: Mỗi thí sinh phải tham gia đủ 03 phần thi gồm: Soạn Đề cương thuyết trình: Yêu cầu ngắn gọn, rõ ràng, không quá 10 trang A4, gửi về Ban Tổ chức Hội thi trước khi diễn ra Hội thi 10 ngày. Đồng thời, gửi slide thuyết trình (không quá 50 slide) về Ban Tổ chức Hội thi trước khi diễn ra hội thi 3 ngày (qua email hoặc ứng dụng Hệ thống Thông tin Tuyên giáo - Dân vận). Phần thi thuyết trình: Thí sinh lựa chọn phần trọng tâm hoặc toàn bộ nội dung chuyên đề đăng ký thi để trình bày trong khoảng thời gian từ 15 - 20 phút (khuyến khích gửi trước video thuyết trình về Ban Tổ chức Hội thi). Phần trả lời câu hỏi của Ban Giảm khảo: Nội dung các câu hỏi liên quan trực tiếp tới bài thuyết trình và có mở rộng đế kiểm tra kiến thức, kỹ năng của báo cáo viên, tuyên truyền viên (không quá 02 câu hỏi/thí sinh). Thí sinh trả lời câu hỏi không quá 05 phút.
Về tài liệu: Thí sinh sử dụng tài liệu chính thống của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; tài liệu về văn kiện Đại hội đăng trên ứng dụng Hệ thống Thông tin Tuyên giáo - Dân vận để chuẩn bị đề cương bài thuyết trình, trả lời câu hỏi do Ban Giám khảo đặt ra; chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin trích dẫn.
Về thời gian tổ chức hội thi:
- Hội thi cấp cơ sở: Tháng 4 - 5/2026.
- Hội thi cấp tỉnh: Tháng 6/2026.
- Hội thi khu vực:
+ Hội thi Khu vực I: gồm các tỉnh, thành phía Bắc (từ Nghệ An trở ra) và 03 đảng ủy trực thuộc Trung ương (dự kiến Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Công an Trung ương), tổ chức vào giữa tháng 7/2026.
+ Hội thi Khu vực II: gồm các tỉnh, thành phố phía Nam (từ Hà Tĩnh trở vào) và 03 đảng ủy trực thuộc Trung ương (dự kiến Quân ủy Trung ương; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương), tổ chức cuối tháng 7/2026.
- Hội thi Chung khảo toàn quốc: dự kiến tổ chức trong tháng 8/2026...
6. Công văn số 289-CV/TU, ngày 13/02/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
Công văn nêu rõ: Nhằm đổi mới phương pháp, lề lối làm việc, chế độ thông tin, báo cáo phục vụ các cuộc họp, hội nghị của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; nâng cao chất lượng cụ thể hóa thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương và chất lượng ban hành văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, nhất là các đồng chí Tỉnh ủy viên, người đứng đầu thực hiện tốt các nội dung sau:
Một là, các cấp ủy, cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy tập trung nâng cao chất lượng công tác tham mưu trong việc cụ thể hóa thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, bảo đảm bám sát quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn của địa phương, tránh chung chung, thiếu tính khả thi. Việc tham mưu Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy văn bản cụ thể hóa thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương phải xác định rõ nội dung công việc, rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, rõ thời gian hoàn thành, rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân gắn với người đứng đầu, rõ thẩm quyền và rõ sản phẩm đầu ra cụ thể; bảo đảm mỗi đề án, chương trình, kế hoạch, văn bản trình cấp có thẩm quyền đều có căn cứ chính trị, pháp lý rõ ràng, có tính dự báo, tính khả thi cao và đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chất lượng, tiến độ và hiệu quả sản phẩm tham mưu; kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, khắc phục tình trạng chậm trễ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trong tình hình mới.
Hai là, thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo phục vụ các cuộc họp, hội nghị của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh theo đúng quy định; đồng thời trước khi trình xin ý kiến Thường trực, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, chú ý thực hiện tốt yêu cầu sau:
(1) Thời gian trình các văn bản:
Đối với các văn bản trình cuộc họp Thường trực Tỉnh ủy phải đăng ký nội dung với Thường trực Tỉnh ủy (qua Văn phòng Tỉnh ủy) trước 02 ngày làm việc và gửi văn bản chính thức trước 01 ngày làm việc (trừ trường hợp đột xuất có ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy); đối với các đề án, dự án, nội dung chiến lược, tác động lớn, phải gửi tài liệu trước ít nhất 07 ngày làm việc.
Đối với các văn bản trình hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy phải đăng ký nội dung với Thường trực Tỉnh ủy (qua Văn phòng Tỉnh ủy) trước 03 ngày làm việc và gửi văn bản chính thức trước 02 ngày làm việc (trừ trường hợp đột xuất có ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy).
Đối với các văn bản trình hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh phải đăng ký nội dung với Thường trực Tỉnh ủy (qua Văn phòng Tỉnh ủy) trước 05 ngày làm việc và gửi văn bản chính thức trước 03 ngày làm việc (trừ trường hợp đột xuất có ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy).
(2) Nội dung tờ trình: Ngắn gọn, súc tích, làm rõ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và nội dung cần xin ý kiến Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (không quá 03 trang giấy A4); đồng thời, cung cấp đầy đủ, chính xác những căn cứ, hồ sơ, thông tin số liệu cần thiết để Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Thường trực Tỉnh ủy có cơ sở thảo luận, quyết định.
Văn phòng Tỉnh ủy chịu trách nhiệm tham mưu tổng hợp chương trình phục vụ các cuộc họp, hội nghị Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đảm bảo đúng thẩm quyền của từng nội dung trình theo Quy chế số 01-QC/TU, ngày 30/10/2025 của Tỉnh ủy; đồng thời, đề xuất Thường trực Tỉnh ủy không xem xét đối với các nội dung trình chưa đúng thẩm quyền hoặc không đưa vào chương trình họp đối với các nội dung chưa đảm bảo chất lượng và thời gian yêu cầu (các nội dung trình phải bảo đảm trình tự: Trình Thường trực Tỉnh ủy, trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh).
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy đầy đủ vai trò, trí tuệ và bản lĩnh chính trị trong việc tham gia đóng góp ý kiến vào sự lãnh đạo, chỉ đạo chung của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nhất là đối với công tác xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, chương trình, đề án và các văn bản lãnh đạo quan trọng của Tỉnh ủy. Việc tham gia ý kiến phải nghiêm túc, kịp thời, đúng thẩm quyền, trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng chủ trương, nghị quyết của Trung ương, tình hình thực tiễn của địa phương và lĩnh vực được ý kiến góp ý có trọng tâm, trọng điểm, rõ chính kiến, rõ trách nhiệm, tránh hình thức, chung chung và chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của các ý kiến tham gia; coi đây là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Đối với những dự thảo văn bản do Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy gửi lấy ý kiến bằng văn bản, đề nghị các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung, tham gia góp ý đầy đủ, đúng trọng tâm, bảo đảm chất lượng, tránh hình thức và gửi đúng thời hạn theo yêu cầu để phục vụ việc tổng hợp, hoàn thiện và ban hành văn bản. Trường hợp không có ý kiến góp ý phải có ý kiến phản hồi bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc không tham gia góp ý. Đây là một trong những nội dung thể hiện rõ trách nhiệm của các đồng chí cấp ủy viên đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo chung của Tỉnh ủy.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh uỷ An Giang
Theo Quy định, đóng đảng phí là nhiệm vụ của đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng. Đảng viên có trách nhiệm báo cáo trung thực với chi bộ về thu nhập của mình làm căn cứ đóng đảng phí theo quy định. Trừ các trường hợp được chậm đóng hoặc đóng trước đảng phí theo quy định tạiKhoản 2, Điều 5 của Quy định này, đảng viên ở trong nước (gồm cả đảng viên dự bị) đóng đảng phí hằng tháng trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc đóng bằng tiền mặt trực tiếp cho chi bộ.
Chi bộ xem xét, đề nghị cấp ủy có thẩm quyền quyết định xóa tên trong danh sách đảng viên đối với trường hợp đảng viên không đóng đảng phí ba tháng trong năm mà không có lý do chính đáng. Trừ các trường hợp bất khả kháng, việc thu, nộp đảng phí của tổ chức đảng các cấp đều phải thực hiện trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia theo quy định, lộ trình, hướng dẫn của Văn phòng Trung ương Đảng. Tổ chức đảng cấp trên có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ tổ chức đảng cấp dưới xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện thu, nộp đảng phí trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Tổ chức đảng các cấp được mở tài khoản tại ngân hàng để thực hiện thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền đảng phí. Tổ chức đảng quyết định hình thức quản lý số dư tiền đảng phí được để lại của mình (bằng tiền mặt hoặc trên tài khoản ngân hàng, kho bạc), bảo đảm an toàn, chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu tổ chức đảng.
Quy định cũng nêu rõ việc quản lý, sử dụng đảng phí. Cụ thể:
Đối với Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, các đảng ủy cấp trên cơ sở xã, phường, đặc khu lập quỹ dự trữ ngân sách đảng từ số đảng phí được để lại cấp ủy và các nguồn thu khác theo quy định. Quỹ dự trữ ngân sách đảng được sử dụng để chi phục vụ hoạt động của cấp ủy, hỗ trợ cho các tổ chức đảng cấp dưới có khó khăn về kinh phí hoạt động và các nhiệm vụ chi khác theo quyết định của cấp ủy.
Đối với các tổ chức đảng còn lại, đảng phí được để lại của tổ chức đảng được cân đối vào nguồn kinh phí hoạt động của tổ chức đảng; cuối năm chưa sử dụng hết thì được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng. Trường hợp tổng các nguồn thu của tổ chức đảng đã bảo đảm được đủ kinh phí hoạt động, tổ chức đảng được sử dụng số đảng phí được để lại để hỗ trợ cho các tổ chức đảng cấp dưới có khó khăn về kinh phí hoạt động.
Trường hợp tổ chức đảng giải tán, giải thể: Số đảng phí chưa sử dụng hết được nộp về tổ chức đảng cấp trên trực tiếp.
Trường hợp tổ chức đảng sáp nhập, hợp nhất với tổ chức đảng khác: Số đảng phí chưa sử dụng hết được chuyển về tổ chức đảng hình thành sau khi sáp nhập, hợp nhất.
Trường hợp tổ chức đảng chia tách hoặc các trường hợp khác: Tổ chức đảng báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp (từ cấp cơ sở trở lên) xem xét, quyết định xử lý số đảng phí chưa sử dụng hết cho phù hợp với tình hình thực tiễn.
Chi bộ phân công một đồng chí (bí thư, phó bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên) chỉ đạo thường xuyên công tác thu, nộp đảng phí của chi bộ, xét duyệt số đảng phí phải đóng của từng đảng viên trong chi bộ. Chi bộ phân công một đồng chí trực tiếp thu đảng phí của đảng viên đóng đảng phí bằng tiền mặt và theo dõi, đôn đốc đảng viên đóng đảng phí bằng các hình thức không dùng tiền mặt (ưu tiên bố trí bí thư, phó bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên thực hiện nhiệm vụ này). Các cấp ủy có trách nhiệm tổng hợp tình hình thu, nộp, sử dụng đảng phí của cấp mình và toàn đảng bộ, lập báo cáo gửi lên cấp ủy cấp trên. Văn phòng Trung ương Đảng có trách nhiệm tổng hợp tình hình thu, nộp, sử dụng đảng phí của toàn Đảng, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2. Quy định số 06-QĐ/TW, ngày 09/02/2026 của Ban Bí thư về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên
Trong đó, quy định rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong quản lý và sử dụng thẻ đảng viên. Cụ thể:
2.1. Trách nhiệm của đảng viên
- Đảng viên phải bảo quản, giữ gìn cẩn thận thẻ đảng viên. Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; không cho người khác mượn, sử dụng thẻ đảng viên; không được dùng thẻ đảng viên để cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố vay, mượn tiền, tài sản; không được đăng tải hình ảnh thẻ đảng viên lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc không phải thẻ của mình; không được tự hủy thẻ đảng viên.
- Nếu thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng, bị mất phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp để xem xét, đề nghị việc cấp lại thẻ đảng viên theo quy định.
- Đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xoá tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác phải nộp lại thẻ đảng viên cho chi bộ.
- Đảng viên từ trần thì gia đình của đảng viên được giữ lại thẻ đảng viên và không được sử dụng thẻ đảng viên trái với Quy định này.
- Đảng viên phát hiện thẻ đảng viên của đảng viên khác bị thất lạc hoặc có những hành vi sử dụng trái với Quy định này phải kịp thời báo cáo cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
2.2. Trách nhiệm của chi bộ, cấp ủy cơ sở
- Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm quán triệt, hướng dẫn đảng viên quản lý, sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định.
- Đề nghị cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên) cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên cho đảng viên theo quy định; tổ chức phát thẻ đảng viên tại cuộc họp chi bộ gần nhất.
- Định kỳ hằng năm tổ chức kiểm tra thẻ đảng viên tại cuộc họp kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên cuối năm; báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên) kết quả kiểm tra.
- Tiếp nhận, xác minh, báo cáo kịp thời các trường hợp mất thẻ, hỏng thẻ hoặc sử dụng thẻ đảng viên không đúng quy định lên cấp ủy cấp trên trực tiếp.
- Thu lại thẻ đảng viên khi đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xoá tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác hoặc thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng và nộp lên cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên).
- Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.
2.3. Trách nhiệm của cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên)
- Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng thẻ đảng viên của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trực thuộc.
- Xét đề nghị của chi bộ, cấp ủy cơ sở, ra quyết định cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên theo quy định. Tiếp nhận thẻ đảng viên được thu hồi từ chi bộ, cấp ủy cơ sở, gửi ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.
- Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.
- Đảng ủy Bộ Ngoại giao quản lý thẻ đảng viên khi đảng viên chuyển sinh hoạt đảng ra ngoài nước; trao lại thẻ đảng viên khi đảng viên trở về nước.
2.4. Trách nhiệm của tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương
- Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng thẻ đảng viên của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong đảng bộ.
- Chỉ đạo ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương phê duyệt danh sách cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên trước khi gửi Ban Tổ chức Trung ương để thực hiện việc in thẻ đảng viên theo quy định.
- Chỉ đạo ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương tiếp nhận thẻ đảng viên hoàn chỉnh từ Ban Tổ chức Trung ương, chuyển về các tổ chức đảng trực thuộc; tiếp nhận thẻ đảng viên được thu hồi từ các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, gửi Ban Tổ chức Trung ương để thực hiện việc hủy thẻ theo quy định.
- Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.
- Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương chịu trách nhiệm quyết định việc phát, đổi thẻ đảng viên đối với đảng viên trong lực lượng vũ trang là cán bộ tình báo hoặc được giao thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, yêu cầu phải bảo mật thông tin nhân thân...
3. Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 03/02/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới
Chỉ thị nêu rõ: Trong tiến trình phát triển đất nước, ngành vật liệu xây dựng đã đóng góp nhiều thành tựu quan trọng, năng lực sản xuất tăng mạnh, sản phẩm đa dạng, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế, đóng góp tích cực tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, phục vụ các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp sau đây:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và người dân; xác định rõ vai trò quan trọng của ngành vật liệu xây dựng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gắn với phòng, chống, thích ứng với biến đổi khí hậu, quá trình đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng tự chủ chiến lược. Phát triển ngành vật liệu xây dựng bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, gắn với nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; sản xuất và sử dụng vật liệu xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, vật liệu thay thế, vật liệu tái chế, giảm phát thải, thân thiện với môi trường.
Hai là, rà soát, hoàn thiện hệ thống quy hoạch, chiến lược về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp thực tiễn, bảo đảm sự phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ hiện đại, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu bổ sung vào danh mục quy hoạch ngành đối với phát triển một số loại vật liệu xây dựng chủ yếu: xi-măng, thép, gạch ốp lát, kính xây dựng.
Rà soát, nghiên cứu ban hành luật về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích thực chất, khả thi thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số gắn với kết quả nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành. Có chế tài đủ mạnh đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các bộ, ngành, địa phương; tiếp tục cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính liên quan đến quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng. Nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc thù bảo đảm vật liệu san lấp cho các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia.
Rà soát và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật bảo đảm phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế; tăng cường năng lực kiểm định, kiểm tra, giám sát chất lượng; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức chứng nhận, cơ quan kiểm định về vật liệu xây dựng.
Ba là, phát triển vật liệu xây dựng phải phù hợp với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, gắn với việc triển khai chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, yêu cầu nâng cao khả năng tự chủ chiến lược. Khuyến khích phát triển các loại vật liệu Việt Nam có lợi thế, vật liệu mới, kỹ thuật cao, thông minh; vật liệu xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; vật liệu tái chế trên cơ sở đánh giá hiệu quả tổng thể, lâu dài (về kinh tế, môi trường, xã hội, an ninh, quốc phòng). Đa dạng hóa chủng loại, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng các sản phẩm, bảo đảm phù hợp với các loại hình công trình, điều kiện khí hậu, đặc thù vùng miền; từng bước thay thế sản phẩm nhập khẩu, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.
Tăng cường điều tra cơ bản, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin toàn quốc liên thông, đồng bộ, thống nhất về vật liệu xây dựng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng và đẩy mạnh cấp phép thăm dò, khai thác theo quy hoạch nhằm bảo đảm nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất. Khuyến khích hình thành các khu vực chế biến khoáng sản tập trung, hiệu quả, giảm thất thoát, tiết kiệm tài nguyên.
Kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Ứng dụng triệt để các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng nhiên liệu thay thế, giảm phát thải. Sử dụng hệ thống xử lý bụi, khí thải đạt chuẩn quốc tế; kiên quyết loại bỏ các công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng lạc hậu, gây ô nhiễm, thâm dụng tài nguyên.
Kiên quyết không cấp phép nhập khẩu công nghệ, dây chuyền sản xuất cũ, không cấp phép đầu tư, mở rộng các dự án chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, thâm dụng năng lượng, tài nguyên. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực vật liệu xây dựng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, gây ô nhiễm môi trường, nhất là các trường hợp tái phạm.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu trong quản lý hoạt động thăm dò, khai thác, xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp và Nhân dân trong việc phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý vi phạm.
Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; có cơ chế đủ hấp dẫn để thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo; khuyến khích các doanh nghiệp tự nghiên cứu, tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu mới, thân thiện môi trường, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa. Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại trong sản xuất, nhất là công nghệ sản xuất ít phát thải, tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu tái chế, phế thải, sử dụng nhiệt thừa và năng lượng tái tạo. Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá việc sử dụng cát biển trong các dự án phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và yêu cầu bảo vệ môi trường. Ứng dụng rộng rãi công nghệ số trong kiểm soát chất lượng, quản lý sản xuất, logistics, giám sát, quan trắc môi trường trực tuyến, kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý. Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý có năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Năm là, đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế để thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp lớn nước ngoài đầu tư, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu - phát triển công nghệ tại Việt Nam; thúc đẩy tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng, nâng cao trình độ quản trị và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, đầu tư ra nước ngoài, hợp tác phát triển các dự án, tham gia hội chợ, giới thiệu, quảng bá thương hiệu, sản phẩm để mở rộng thị trường xuất khẩu. Theo dõi, dự báo và thông tin kịp thời diễn biến tình hình cung cầu, thị hiếu, đặc biệt là những thay đổi về yêu cầu, điều kiện nhập khẩu của các thị trường lớn trên thế giới. Quản lý hiệu quả hoạt động nhập khẩu vật liệu xây dựng, nhất là các sản phẩm trong nước đã sản xuất được; tăng cường năng lực phòng vệ thương mại.
4. Nghị định số 03/2026/NĐ-CP, ngày 09/01/2026 của Chính phủ, quy định tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Nghị định gồm 56 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:
Theo Nghị định, quỹ xã hội là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện góp một phần tài sản để thành lập hoặc thành lập thông qua di chúc, hiến, tặng cho tài sản; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ; tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, nông nghiệp, nông thôn, bảo vệ tài nguyên và môi trường, an sinh xã hội và cộng đồng.
Quỹ từ thiện là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện góp một phần tài sản để thành lập hoặc thành lập thông qua di chúc, hiến, tặng cho tài sản; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ; tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích từ thiện, nhân đạo; hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn và các đối tượng khác thuộc diện khó khăn, yếu thế cần sự trợ giúp của xã hội.
Mục đích, lĩnh vực hoạt động: Quỹ xã hội, quỹ từ thiện (quỹ) được tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích hỗ trợ, khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, nông nghiệp, nông thôn; bảo vệ tài nguyên và môi trường; cộng đồng, từ thiện, nhân đạo, an sinh xã hội; hỗ trợ các đối tượng thuộc diện khó khăn, yếu thế cần sự trợ giúp của xã hội; hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh theo quy định pháp luật.Quỹ được cấp giấy phép thành lập khi đảm bảo đủ các điều kiện sau: (1) Mục đích, lĩnh vực hoạt động theo quy định ở trên; (2) Sáng lập viên thành lập quỹ, Ban sáng lập quỹ theo quy định; (3) Ban sáng lập quỹ có đủ số tài sản đóng góp để thành lập quỹ theo quy định; (4) Hồ sơ thành lập quỹ theo quy định.
Nghị định quy định cá nhân, tổ chức nước ngoài được góp tài sản cùng công dân, tổ chức Việt Nam để thành lập quỹ ở Việt Nam. Điều kiện đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài: Phải có cam kết nộp thuế và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của tài sản đóng góp; cam kết thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Việt Nam và mục đích hoạt động của quỹ; có tài sản đóng góp thành lập quỹ theo quy định. Tài sản đóng góp thành lập quỹ của cá nhân, tổ chức nước ngoài không được vượt quá 50% tổng số tài sản đóng góp thành lập quỹ theo quy định.
Điều kiện để quỹ được hoạt động: (1) Có giấy phép thành lập và công nhận điều lệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; (2) Đã công bố về việc thành lập quỹ theo quy định; (3) Có văn bản xác nhận của ngân hàng nơi quỹ đăng ký mở tài khoản về số tiền mà từng sáng lập viên cam kết đóng góp để thành lập quỹ đã có đủ trong tài khoản của quỹ. Đối với tài sản khác, đã thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản theo quy định; (4) Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quỹ đủ điều kiện hoạt động và công nhận Hội đồng quản lý quỹ.Quỹ hoạt động theo địa giới hành chính gồm: Quỹ hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh; Quỹ hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (tỉnh); Quỹ hoạt động trong phạm vi xã, phường, đặc khu (xã).
Các hành vi bị nghiêm cấm: Nghị định nghiêm cấm lợi dụng việc thành lập và tổ chức, hoạt động của quỹ để thực hiện các hành vi sau: (1) Hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích của quỹ, làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng; gây phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, khối đại đoàn kết dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; (2) Xâm hại đạo đức xã hội, thuần phong, mỹ tục, truyền thống, bản sắc dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; (3) Tư lợi, gian dối, thực hiện, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, lập chứng từ không đúng thực tế hoặc thông đồng với tổ chức, cá nhân nhằm trốn thuế, gian lận thuế hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tài chính, thuế, kế toán trong quá trình thành lập, hoạt động của quỹ; (4) Rửa tiền, tài trợ khủng bố và các hoạt động trái pháp luật; (5) Làm giả, tẩy xóa, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, cầm cố, thế chấp giấy phép thành lập quỹ dưới bất kỳ hình thức nào; (6) Nhận tiền gửi, cho vay, góp vốn đầu tư; (7) Sử dụng ngân sách nhà nước, sử dụng hoặc hỗ trợ tài sản được ngân sách nhà nước giao hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để tham gia góp tài sản thành lập quỹ.Chính sách của Nhà nước đối với quỹ: Nhà nước tạo điều kiện để quỹ tổ chức, hoạt động theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ của quỹ; Nhà nước hỗ trợ kinh phí để quỹ thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao (nếu có). Việc đóng góp tài sản của cá nhân, tổ chức vào quỹ được áp dụng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.
5. Kế hoạch số 13-KH/BTGDVTW, ngày 13/02/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về tổ chức “Hội thi Báo cáo viên, Tuyên truyền viên giỏi toàn quốc năm 2026 tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”. Kế hoạch nêu một số nội dung quan trọng như sau:
Về phương thức tổ chức: Hội thi được tiến hành từ cấp cơ sở, tỉnh, thành phố, khu vực và chung khảo toàn quốc. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương căn cứ tình hình, điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị để tổ chức hội thi thiết thực, hiệu quả. Quân ủy Trung ương tổ chức hội thi từ cấp trung đoàn, lữ đoàn và tương đương trở lên; Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức hội thi từ cấp cục và tương đương trở lên.
Đối tượng dự thi: Báo cáo viên các cấp, tuyên truyền viên cơ sở hiện đang công tác tại các địa phương, cơ quan, đơn vị.
Về số lượng dự thi: Đối với hội thi khu vực thì các tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương lựa chọn 02 cá nhân đạt giải cao từ hội thi của ngành, địa phương mình tham gia thi khu vực. Riêng thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương được lựa chọn 03 người tham gia thi. Đối với hội thi toàn quốc: Mỗi khu vực, Ban Giám khảo lựa chọn 12 cá nhân xuất sắc tham gia Hội thi Chung khảo toàn quốc.
Về nội dung thi: Thí sinh lựa chọn nội dung gắn với cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng hoặc nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 để thi; khuyến khích liên hệ thực tiễn cơ quan, địa phương nơi thí sinh công tác, sinh sống.
Về hình thức thi: Mỗi thí sinh phải tham gia đủ 03 phần thi gồm: Soạn Đề cương thuyết trình: Yêu cầu ngắn gọn, rõ ràng, không quá 10 trang A4, gửi về Ban Tổ chức Hội thi trước khi diễn ra Hội thi 10 ngày. Đồng thời, gửi slide thuyết trình (không quá 50 slide) về Ban Tổ chức Hội thi trước khi diễn ra hội thi 3 ngày (qua email hoặc ứng dụng Hệ thống Thông tin Tuyên giáo - Dân vận). Phần thi thuyết trình: Thí sinh lựa chọn phần trọng tâm hoặc toàn bộ nội dung chuyên đề đăng ký thi để trình bày trong khoảng thời gian từ 15 - 20 phút (khuyến khích gửi trước video thuyết trình về Ban Tổ chức Hội thi). Phần trả lời câu hỏi của Ban Giảm khảo: Nội dung các câu hỏi liên quan trực tiếp tới bài thuyết trình và có mở rộng đế kiểm tra kiến thức, kỹ năng của báo cáo viên, tuyên truyền viên (không quá 02 câu hỏi/thí sinh). Thí sinh trả lời câu hỏi không quá 05 phút.
Về tài liệu: Thí sinh sử dụng tài liệu chính thống của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; tài liệu về văn kiện Đại hội đăng trên ứng dụng Hệ thống Thông tin Tuyên giáo - Dân vận để chuẩn bị đề cương bài thuyết trình, trả lời câu hỏi do Ban Giám khảo đặt ra; chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin trích dẫn.
Về thời gian tổ chức hội thi:
- Hội thi cấp cơ sở: Tháng 4 - 5/2026.
- Hội thi cấp tỉnh: Tháng 6/2026.
- Hội thi khu vực:
+ Hội thi Khu vực I: gồm các tỉnh, thành phía Bắc (từ Nghệ An trở ra) và 03 đảng ủy trực thuộc Trung ương (dự kiến Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Công an Trung ương), tổ chức vào giữa tháng 7/2026.
+ Hội thi Khu vực II: gồm các tỉnh, thành phố phía Nam (từ Hà Tĩnh trở vào) và 03 đảng ủy trực thuộc Trung ương (dự kiến Quân ủy Trung ương; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương), tổ chức cuối tháng 7/2026.
- Hội thi Chung khảo toàn quốc: dự kiến tổ chức trong tháng 8/2026...
6. Công văn số 289-CV/TU, ngày 13/02/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
Công văn nêu rõ: Nhằm đổi mới phương pháp, lề lối làm việc, chế độ thông tin, báo cáo phục vụ các cuộc họp, hội nghị của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; nâng cao chất lượng cụ thể hóa thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương và chất lượng ban hành văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, nhất là các đồng chí Tỉnh ủy viên, người đứng đầu thực hiện tốt các nội dung sau:
Một là, các cấp ủy, cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy tập trung nâng cao chất lượng công tác tham mưu trong việc cụ thể hóa thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, bảo đảm bám sát quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn của địa phương, tránh chung chung, thiếu tính khả thi. Việc tham mưu Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy văn bản cụ thể hóa thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương phải xác định rõ nội dung công việc, rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, rõ thời gian hoàn thành, rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân gắn với người đứng đầu, rõ thẩm quyền và rõ sản phẩm đầu ra cụ thể; bảo đảm mỗi đề án, chương trình, kế hoạch, văn bản trình cấp có thẩm quyền đều có căn cứ chính trị, pháp lý rõ ràng, có tính dự báo, tính khả thi cao và đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chất lượng, tiến độ và hiệu quả sản phẩm tham mưu; kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, khắc phục tình trạng chậm trễ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trong tình hình mới.
Hai là, thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo phục vụ các cuộc họp, hội nghị của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh theo đúng quy định; đồng thời trước khi trình xin ý kiến Thường trực, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, chú ý thực hiện tốt yêu cầu sau:
(1) Thời gian trình các văn bản:
Đối với các văn bản trình cuộc họp Thường trực Tỉnh ủy phải đăng ký nội dung với Thường trực Tỉnh ủy (qua Văn phòng Tỉnh ủy) trước 02 ngày làm việc và gửi văn bản chính thức trước 01 ngày làm việc (trừ trường hợp đột xuất có ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy); đối với các đề án, dự án, nội dung chiến lược, tác động lớn, phải gửi tài liệu trước ít nhất 07 ngày làm việc.
Đối với các văn bản trình hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy phải đăng ký nội dung với Thường trực Tỉnh ủy (qua Văn phòng Tỉnh ủy) trước 03 ngày làm việc và gửi văn bản chính thức trước 02 ngày làm việc (trừ trường hợp đột xuất có ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy).
Đối với các văn bản trình hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh phải đăng ký nội dung với Thường trực Tỉnh ủy (qua Văn phòng Tỉnh ủy) trước 05 ngày làm việc và gửi văn bản chính thức trước 03 ngày làm việc (trừ trường hợp đột xuất có ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy).
(2) Nội dung tờ trình: Ngắn gọn, súc tích, làm rõ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và nội dung cần xin ý kiến Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (không quá 03 trang giấy A4); đồng thời, cung cấp đầy đủ, chính xác những căn cứ, hồ sơ, thông tin số liệu cần thiết để Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Thường trực Tỉnh ủy có cơ sở thảo luận, quyết định.
Văn phòng Tỉnh ủy chịu trách nhiệm tham mưu tổng hợp chương trình phục vụ các cuộc họp, hội nghị Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đảm bảo đúng thẩm quyền của từng nội dung trình theo Quy chế số 01-QC/TU, ngày 30/10/2025 của Tỉnh ủy; đồng thời, đề xuất Thường trực Tỉnh ủy không xem xét đối với các nội dung trình chưa đúng thẩm quyền hoặc không đưa vào chương trình họp đối với các nội dung chưa đảm bảo chất lượng và thời gian yêu cầu (các nội dung trình phải bảo đảm trình tự: Trình Thường trực Tỉnh ủy, trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh).
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy đầy đủ vai trò, trí tuệ và bản lĩnh chính trị trong việc tham gia đóng góp ý kiến vào sự lãnh đạo, chỉ đạo chung của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nhất là đối với công tác xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, chương trình, đề án và các văn bản lãnh đạo quan trọng của Tỉnh ủy. Việc tham gia ý kiến phải nghiêm túc, kịp thời, đúng thẩm quyền, trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng chủ trương, nghị quyết của Trung ương, tình hình thực tiễn của địa phương và lĩnh vực được ý kiến góp ý có trọng tâm, trọng điểm, rõ chính kiến, rõ trách nhiệm, tránh hình thức, chung chung và chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của các ý kiến tham gia; coi đây là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Đối với những dự thảo văn bản do Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy gửi lấy ý kiến bằng văn bản, đề nghị các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung, tham gia góp ý đầy đủ, đúng trọng tâm, bảo đảm chất lượng, tránh hình thức và gửi đúng thời hạn theo yêu cầu để phục vụ việc tổng hợp, hoàn thiện và ban hành văn bản. Trường hợp không có ý kiến góp ý phải có ý kiến phản hồi bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc không tham gia góp ý. Đây là một trong những nội dung thể hiện rõ trách nhiệm của các đồng chí cấp ủy viên đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo chung của Tỉnh ủy.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh uỷ An Giang