THÔNG TIN NỘI BỘ

http://noibo.angiang.dcs.vn


Thông tin trong nước (số tháng 8 năm 2026)

Thông tin trong nước (số tháng 8 năm 2026)
1. Kết quả sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp và các nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
Sau một năm triển khai mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, việc sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền 3 cấp đã đạt những kết quả bước đầu quan trọng, đó là:
 (1) Bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn hơn, đồng bộ hơn. (2) Việc hoàn thiện thể chế pháp luật, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cải cách thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đã được đẩy mạnh. (3) Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bước đầu ổn định. (4) Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nhiều đổi mới. (5) Công tác tuyên truyền, quán triệt, giáo dục chính trị, tư tưởng và vận động tạo đồng thuận xã hội được triển khai khá bài bản. 
Tuy nhiên, có 7 vấn đề lớn cần tập trung khắc phục, đó là: 
(1) Thể chế liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cơ chế vận hành mới ở một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ. Có nơi nhiệm vụ đã được giao nhưng hướng dẫn chưa kịp thời, có nơi thẩm quyền đã được phân cấp nhưng nguồn lực, nhân lực, công cụ quản lý chưa đi cùng. 
(2) Thể chế pháp luật hiện hành còn chưa đồng bộ, thống nhất, nhiều quy định còn chưa rõ ràng, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; pháp luật về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài nguyên rừng, pháp luật về tài chính, ngân sách… Chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa một số cơ quan trong hệ thống chính trị chưa thật sự rõ ràng, đồng bộ; nhiều trường hợp thẩm quyền chưa tương xứng với nguồn lực được giao và điều kiện thực thi; một số mô hình tổ chức và vận hành sau sắp xếp còn đang trong quá trình hoàn thiện.
(3) Năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là cấp xã, chưa theo kịp yêu cầu mới. Khối lượng công việc chuyển xuống cơ sở rất lớn, trong khi cán bộ chuyên sâu về đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ thông tin, thanh tra, quản lý đô thị, các lĩnh vực phức tạp khác còn thiếu. Nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn và đối mặt với rủi ro công vụ. (theo đánh giá chỉ có 53% cán bộ cấp tỉnh, 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ). 
(4) Định mức biên chế, tổ chức bộ máy và cơ chế phân bổ nguồn lực ở một số nơi còn mang tính bình quân, chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt rất lớn về quy mô dân số, diện tích, tính chất đô thị, điều kiện miền núi, biên giới, hải đảo, mức độ phát triển và khối lượng công việc thực tế.
(5) Hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số còn hạn chế; việc chuyển đổi số còn chậm và chưa thật sự đồng bộ. Dữ liệu chuyên ngành còn phân tán; một số hệ thống phần mềm chưa liên thông, chưa ổn định (trung tâm dữ liệu quốc gia mới kết nối 5/12 cơ sở dữ liệu chiến lược và 60/104 cơ sở dữ liệu chuyên ngành hay cả nước có 106 triệu thửa đất nhưng chỉ có 23,5 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”, dữ liệu đất đai chưa được chuẩn hóa thì quản lý dựa trên dữ liệu sẽ rất khó khăn); cán bộ cơ sở phải sử dụng nhiều hệ thống, nhiều phần mềm khác nhau, làm giảm hiệu quả vận hành, tăng áp lực xử lý công việc. 
(6) Việc xử lý tài sản công dôi dư, bố trí trụ sở làm việc, chỉnh lý và số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ còn chậm ở nhiều nơi. Đây vừa là vấn đề trước mắt cần giải quyết, vừa là nguồn lực rất lớn cần được khai thác hiệu quả cho phát triển. 
(7) Sau khi không còn cấp huyện, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát giữa cấp tỉnh với cấp cơ sở đặt ra nhiều vấn đề mới. Nếu không đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, dễ dẫn đến hai nguy cơ: hoặc cấp trên không nắm chắc cơ sở, hoặc cấp dưới lại phải xin ý kiến quá nhiều, làm giảm tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm.
Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt 10 nhiệm vụ trọng tâm sau: 
(i) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế về pháp luật và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. (ii) Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. (iii) Hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. (iv) Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và kiểm soát quyền lực. (v) Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Đây là nhiệm vụ then chốt của then chốt. (vi) Nâng cao chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. (vii) Phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của mặt trật Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. (viii) Xử lý hiệu quả tài sản công, trụ sở và hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp, coi đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. (ix) Đổi mới mạnh mẽ công tác kiểm tra, giám sát và phương thức chỉ đạo, điều hành. (x) Đối với các lĩnh vực liên ngành còn giao thoa, cần khẩn trương rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ theo nguyên tắc: một việc phải có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính; một nguồn dữ liệu dùng chung; một quy trình phối hợp liên thông; đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm rõ ràng. 
2. Tiếp tục tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới
Thời gian qua, việc thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới đã được các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các tổ chức cơ sở đảng được kiện toàn, củng cố phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện, xuyên suốt; phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới; chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được tăng cường, vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được khẳng định; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu từng bước được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển và quản trị trong tình hình mới. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai vẫn còn một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc. 
Để tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, tại Kết luận số 58-KL/TW ngày 26/6/2026, Bộ Chính trị yêu cầu: 
Chuyển trọng tâm từ củng cố sang nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, quản trị và tổ chức thực hiện ở cơ sở; tiếp tục tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Hoàn thiện mô hình tổ chức của Đảng đồng bộ, tương ứng với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở phù hợp với đặc thù địa bàn, lĩnh vực và yêu cầu phát triển mới. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo hướng thực chất, hiệu quả; đẩy mạnh phát triển tổ chức đảng trong khu vực ngoài nhà nước và ở những lĩnh vực, địa bàn trọng điểm; tăng cường vai trò lãnh đạo, kiểm tra, giám sát.
Đổi mới công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên, chủ động tạo nguồn, tiếp tục thực hiện mục tiêu kết nạp đảng viên mới theo hướng linh hoạt, phù hợp đặc thù từng địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, không hạ thấp tiêu chuẩn; lấy chất lượng về chính trị, phẩm chất, năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu. Chủ động tạo nguồn, phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú theo quy trình bài bản, gắn với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, qua đó hình thành lực lượng kế cận chất lượng, tiêu biểu trong giai đoạn mới. Quan tâm phát triển đảng viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, địa bàn khó khăn gắn với nâng cao dân trí, đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ và củng cố hệ thống chính trị cơ sở.
Tăng cường công tác quản lý đảng viên trên nền tảng số. Đổi mới toàn diện công tác quản lý đảng viên, điều hành, giao việc, theo dõi, kiểm tra, giám sát công việc theo hướng quản trị trên nền tảng số liên thông, xuyên suốt, không gián đoạn. 100% đảng viên được phân công nhiệm vụ cụ thể, gắn với nhiệm vụ chính trị, nhất là người đứng đầu theo nguyên tắc "sáu rõ, một xuyên suốt" (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền và một nhiệm vụ - một đầu mối xuyên suốt).  Xây dựng và vận hành thống nhất Thẻ đảng viên điện tử, Hồ sơ đảng viên điện tử trong toàn Đảng.  Từng bước xây dựng lộ trình thực hiện các thủ tục hành chính, nghiệp vụ công tác đảng viên trên môi trường số; không làm tăng thủ tục hành chính, chỉ yêu cầu bổ sung khi có vấn đề mới phát sinh.
Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; xây dựng "hình mẫu người đảng viên trong kỷ nguyên mới", thực hành "4 kiên định" giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng và lời thề với Đảng, gắn bó mật thiết với Nhân dân, hội tụ đầy đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, uy tín, năng lực, trình độ, đoàn kết, kỷ cương, có tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Bộ Chính trị giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu ban hành các văn bản cụ thể hóa Kết luận này; tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với hệ thống chính trị 3 cấp gắn với chuyển đổi số, vận hành hệ thống dữ liệu thống nhất, liên thông trong toàn Đảng, đơn giản hóa thủ tục nghiệp vụ công tác đảng và quản lý đảng viên trên môi trường số; xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên hằng năm và theo nhiệm kỳ; tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị.
3. Những nội dung quan trọng cần quán triệt trong tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Chiều 17/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) đã chủ trì cuộc làm việc với Thường trực Ban Chỉ đạo. Phát biểu kết luận cuộc làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu 7 nội dung cần quán triệt, như sau: 
Thứ nhất, phải nắm thật chắc quan điểm chỉ đạo, yêu cầu và phương pháp tổng kết. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là một công việc có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng. Tổng kết phải bám chắc sự thật lịch sử, tôn trọng lịch sử, xuất phát từ lịch sử; nhưng không dừng lại ở việc kể lại lịch sử, không phải là liệt kê sự kiện theo lối biên niên sử. Điều quan trọng hơn là từ lịch sử phải đúc kết được những vấn đề, những kết luận và những bài học lớn, những quy luật xuyên suốt; từ đó làm sáng rõ hơn con đường cách mạng Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc; và tương lai phát triển của dân tộc.
Tổng kết lần này phải tạo ra được giá trị mới, đóng góp mới, nhận thức mới so với các lần tổng kết trước. Nếu chỉ tập hợp lại những gì đã có, cộng các báo cáo cũ lại với nhau, diễn đạt lại theo hình thức mới thì không đạt yêu cầu. Phải trả lời được câu hỏi, sau tổng kết này, sự phát triển về nhận thức lý luận của Đảng ta qua 100 năm sâu sắc hơn ở điểm nào; con đường phát triển của đất nước sáng rõ hơn ở điểm nào; bài học kinh nghiệm nào được khái quát ở tầm cao hơn; vấn đề lý luận nào được bổ sung, phát triển sáng tạo; tầm nhìn và định hướng chiến lược nào cho 100 năm tới được xác lập có căn cứ, có sức thuyết phục.
Thứ hai, phải làm rõ mối quan hệ giữa tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam với tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là hai nội dung lớn, có mối quan hệ rất chặt chẽ nhưng không đồng nhất, cũng không thể tách rời. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là tổng kết toàn bộ chặng đường lịch sử Đảng ra đời, lãnh đạo cách mạng, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, lãnh đạo công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh là tổng kết một nội dung rất trọng tâm, gắn với quá trình nhận thức, bổ sung, phát triển đường lối xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, cần xác định rõ phương thức kết hợp hai nội dung này. Không làm rời rạc, song song một cách cơ học; cũng không hòa lẫn làm mờ trọng tâm cốt lõi của từng báo cáo. Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh phải được đặt trong dòng chảy 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam; đồng thời, tập trung đánh giá việc thực hiện mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đã được nêu trong Cương lĩnh. Phải làm rõ những nội dung Cương lĩnh đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, những nội dung cần tiếp tục bổ sung, phát triển và những vấn đề mới mà lý luận phải đi trước, vượt trước, dẫn đường; góp phần làm sâu sắc hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thứ ba, tổng kết phải nhấn mạnh được những thành tựu vĩ đại qua 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là thành tựu về đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tiến hành công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quốc phòng, an ninh; mở rộng đối ngoại, hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế... Phải làm rõ giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại, giá trị lý luận và giá trị thực tiễn của những thành tựu đó; làm rõ tầm vóc lịch sử của những thành tựu đã thay đổi vận mệnh dân tộc, thay đổi vị thế đất nước, củng cố niềm tin của Nhân dân.
Đồng thời, tổng kết phải thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, khuyết điểm, những vấn đề chưa thành công, những bài học, những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ. Đề cập đến hạn chế không phải là để làm nhẹ đi thành tựu. Vấn đề là phải có phương pháp khoa học, khách quan, biện chứng, lịch sử - cụ thể; nhìn nhận đúng bản chất, đúng nguyên nhân, đúng tầm vóc của từng vấn đề. Có như vậy, những bài học của quá khứ mới giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tương lai.
Thứ tư, phải làm rõ những vấn đề cốt lõi, xuyên suốt trong 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, như: Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua những bước ngoặt lịch sử; về lựa chọn và kiên định con đường phát triển; về xử lý quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể; về phát huy sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng; về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng nền tảng phát triển đất nước… Phải trả lời được vì sao Đảng ta có thể lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, trong những điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp.
Đồng thời, phải làm nổi bật các bài học kinh nghiệm mang tính quy luật, như: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; liên tục đổi mới sáng tạo trên nền tảng giữ vững nguyên tắc; dân là gốc; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; xử lý đúng đắn các mối quan hệ lớn… Các bài học kinh nghiệm phải được chắt lọc, khái quát ở tầm lý luận, tránh những nhận xét chung chung, quen thuộc nhưng chưa đủ sức định hướng.
Thứ năm, đặc biệt coi trọng xác định tầm nhìn và định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tới. Đây là nội dung rất khó. Tổng kết quá khứ đã khó, nhưng dự báo, định hướng tương lai còn khó hơn nhiều. Tương lai luôn chứa đựng những yếu tố bất định; thế giới biến đổi rất nhanh; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh… không ngừng tạo ra những thay đổi sâu sắc; điều chỉnh và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng phức tạp; an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen. Vì vậy, xác định tầm nhìn và định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tới không thể là mong muốn chủ quan, mà phải có cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cơ sở khoa học, phương pháp dự báo và tư duy chiến lược dài hạn.
Tầm nhìn 100 năm tới phải tiếp tục thể hiện được khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam. Phải trả lời được những câu hỏi lớn: Việt Nam muốn trở thành một quốc gia phát triển như thế nào trong thế kỷ tới; những nền tảng nào phải giữ vững; những động lực phát triển mới là gì; những đột phá nào phải vạch ra; những nguy cơ nào phải đối mặt; những giá trị nào phải được bảo vệ và phát huy. Tầm nhìn phải có chiều cao của khát vọng, chiều sâu của lý luận, bám sát thực tiễn đất nước và xu thế của thời đại, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.
Thứ sáu, bên cạnh nội dung chuyên môn, phải hết sức chú ý công tác tổ chức thực hiện. Công việc rất lớn, yêu cầu rất cao, thời gian đi rất nhanh, vì vậy nếu tổ chức công việc không tốt thì khó bảo đảm tiến độ và chất lượng. Các nhóm tổng kết phải triển khai ngay, không chờ đợi nhau. Từng nhóm phải chủ động xây dựng kế hoạch, xác định rõ sản phẩm, rõ thời hạn, rõ người chịu trách nhiệm, rõ cơ chế phối hợp, rõ điểm đến của từng giai đoạn. Cần thường xuyên rà soát tiến độ, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, điều chỉnh cách làm, bảo đảm các sản phẩm trung gian có chất lượng, để khi xây dựng báo cáo tổng hợp không bị động, không dồn việc vào cuối kỳ.
Thứ bảy, phải đặc biệt coi trọng vấn đề tư liệu, dữ liệu, nhân chứng lịch sử và các nguồn thông tin có giá trị. Tổng kết 100 năm không thể chỉ dựa vào các báo cáo hành chính. Phải huy động trí tuệ của toàn Đảng, của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ thực tiễn, các nhân chứng lịch sử, các đồng chí lão thành cách mạng, các thế hệ lãnh đạo, quản lý qua các thời kỳ. Đây là nguồn tri thức, kinh nghiệm và tư liệu rất quý. Có những vấn đề chỉ được làm sáng tỏ khi kết hợp tư liệu lưu trữ với hồi ức của nhân chứng, với nghiên cứu của nhà khoa học, với kinh nghiệm của cán bộ thực tiễn và với sự phân tích khách quan, đa chiều.
Cần phát huy, sử dụng tốt các kho tư liệu, dữ liệu lịch sử, các công trình nghiên cứu đã có, các tài liệu lưu trữ trong nước và quốc tế, các kết quả tổng kết chuyên đề, tổng kết ngành, lĩnh vực, địa phương. Đối với những tài liệu có điều kiện, cần nghiên cứu cơ chế khai thác, giải mật, sử dụng phù hợp, đúng quy định, phục vụ công tác tổng kết. Việc này phải được làm nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học, vừa bảo đảm yêu cầu bảo mật, vừa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tổng kết, làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử cần kết luận.
Có những vấn đề lịch sử đã rõ thì phải khẳng định dứt khoát. Có những vấn đề còn ý kiến khác nhau thì phải nghiên cứu, phân tích thấu đáo. Những vấn đề cần kết luận thì phải chuẩn bị căn cứ thật chắc để kết luận. Không né tránh những vấn đề khó; nhưng cũng không nóng vội, giản đơn, chủ quan trong kết luận. Kết luận lịch sử phải có căn cứ, có phương pháp, có trách nhiệm; kết luận để thống nhất nhận thức, củng cố niềm tin, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
4. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Để tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, ngày 24/6/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 56-KL/TW yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Xác định rõ công tác phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, lâu dài; là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nhận diện sớm, dự báo đúng diễn biến, xu hướng và phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm. Chuyển mạnh từ tư duy ứng phó, xử lý sang chủ động phòng ngừa, quản trị rủi ro, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh quyết liệt, xử lý nghiêm minh, đúng quy định pháp luật mọi hành vi phạm tội. Kéo giảm bền vững các loại tội phạm; xây dựng và nhân rộng các địa bàn không có tội phạm. Phát huy vai trò chủ trì, nòng cốt của lực lượng Công an nhân dân. Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và giữa các địa phương. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm trong tổ chức thực hiện, bảo đảm mọi chủ trương, chính sách về phòng, chống tội phạm được tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở.
Khẩn trương rà soát, sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tội phạm, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thực tiễn, luật pháp quốc tế. Nghiên cứu áp dụng chính sách hình sự và chế tài nghiêm khắc hơn đối với các loại tội phạm về môi trường, an toàn thực phẩm, các hành vi xâm hại sức khỏe cộng đồng. Sửa đổi chính sách hình sự trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ theo hướng giảm hình phạt tù, tăng chế tài xử lý kinh tế, khuyến khích đầu tư nguồn lực vào phát triển kinh tế. Khẩn trương xây dựng, triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026 - 2035.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Rà soát, giải quyết căn cơ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý địa bàn, lĩnh vực trọng điểm về an ninh, trật tự. Đổi mới công tác thi hành án phạt tù, giáo dục, cải tạo phạm nhân. Tổ chức hiệu quả đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ vốn cho người sau cai nghiện ma tuý, người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng.
Đổi mới toàn diện công tác tuyên truyền phòng, chống tội phạm, ứng dụng công nghệ, thông qua người có uy tín, tập trung vào nhóm đối tượng có nguy cơ cao. Chú trọng xây dựng, bồi đắp nền tảng đạo đức, lối sống lành mạnh trong toàn xã hội. Chủ động, tích cực lan tỏa các giá trị tốt đẹp, nhân văn, tinh thần thượng tôn pháp luật; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong đời sống thực và trên không gian mạng. Thực hiện chính sách hỗ trợ nguồn lực phù hợp, củng cố lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở vững mạnh, rộng khắp; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Công an nhân dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, tổ chức Công đoàn... trong công tác tuyên truyền, giáo dục, cảm hóa, can thiệp sớm đối với nhóm đối tượng có nguy cơ cao vi phạm pháp luật.
Nắm chắc tình hình, chủ động nhận diện và dự báo chiến lược, nhất là về các loại tội phạm, vi phạm pháp luật có thể phát sinh trong các không gian, lĩnh vực phát triển mới. Tổ chức tổng rà soát các đối tượng, tổ chức, đường dây, băng nhóm, điểm, tụ điểm phức tạp về tội phạm để đấu tranh, triệt phá tận gốc. Kiểm soát hiệu quả các điều kiện phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là các lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới tiềm ẩn nguy cơ cao. Tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm kịp thời, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật; điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án chuyên nghiệp, hiện đại, nghiêm minh, không để oan sai, không để lọt tội phạm, không làm cản trở sự phát triển, hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Chú trọng công tác thu hồi tài sản do phạm tội mà có.
Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng chuyên trách về an ninh, trật tự bảo đảm tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với tổ chức chính quyền 3 cấp và không gian phát triển mới; ưu tiên địa bàn cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và khoa học, công nghệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo đột phá chiến lược trong công tác phòng, chống tội phạm. Ưu tiên xây dựng các hệ thống theo dõi, cảnh báo sớm về an ninh, trật tự, xu hướng, nguy cơ phát sinh tội phạm. Khẩn trương hoàn thiện, kết nối, khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành; hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung phục vụ quản trị an ninh, trật tự trên các lĩnh vực, ở các địa bàn trọng điểm.
Thúc đẩy hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm với các nước có tiềm lực về kinh tế, khoa học, công nghệ và có nhiều người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc. Tích cực tham gia các cơ chế hợp tác đa phương về phòng, chống tội phạm; chủ động dẫn dắt một số cơ chế Việt Nam có thế mạnh và uy tín. Triển khai Đề án phát triển tiềm lực đối ngoại Công an nhân dân và hội nhập quốc tế về an ninh, trật tự, phòng, chống tội phạm.
Ưu tiên bố trí nguồn lực phòng, chống tội phạm cho các địa bàn trọng điểm, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, địa bàn cơ sở. Tập trung đầu tư vào cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, hạ tầng dữ liệu, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Phát huy vai trò của Quỹ phòng, chống tội phạm; đẩy mạnh xã hội hóa, hợp tác công tư; hỗ trợ nguồn lực từ ngân sách của địa phương.
5. Những nét chính về tình hình kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2026; nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, khó lường. Ở trong nước, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; sự phối hợp của Quốc hội, các cơ quan trong hệ thống chính trị; sự đồng thuận của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, linh hoạt, xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực, nhiều kết quả tốt hơn tháng trước, quý trước và cùng kỳ. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
GDP quý II ước tăng 8,39% so với cùng kỳ, cao nhất từ năm 2011 đến nay; 6 tháng tăng 8,18%; có 9 địa phương tăng trưởng 2 con số, chiếm xấp xỉ 18,6% GDP cả nước, trong đó Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Phú Thọ, Tây Ninh có tốc độ tăng trưởng cao nhất. CPI tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước, bình quân 6 tháng tăng 4,38%. Thị trường tiền tệ, ngoại hối cơ bản ổn định; sàn giao dịch tín chỉ các-bon trong nước được đưa vào hoạt động từ cuối tháng 6.
Thu ngân sách nhà nước 06 tháng ước đạt 1,57 triệu tỷ đồng, bằng 62% dự toán, tăng hơn 17% so với cùng kỳ, trong khi đã miễn, giảm thuế, phí khoảng 89 nghìn tỷ đồng và gia hạn thuế, tiền thuê đất khoảng 125 nghìn tỷ đồng. Nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài và bội chi ngân sách được kiểm soát tốt. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1%; trong đó xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21%, là các mức tăng cao nhất trong cùng kỳ từ năm 2022 đến nay. Giải ngân vốn đầu tư công đến hết tháng 6 ước đạt 357 nghìn tỷ đồng, bằng 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn khoảng 38,4 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2025.
Các ngành, lĩnh vực chủ yếu tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 6 và 6 tháng tăng lần lượt 12,7% và 10,8% so với cùng kỳ, cao nhất từ năm 2019 đến nay; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%; Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 6 đạt 51,8 điểm, là tháng thứ 12 liên tiếp trên 50 điểm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%; kim ngạch xuất khẩu đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6%, thặng dư thương mại khoảng 9,2 tỷ USD. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9%; khách quốc tế đạt 12,25 triệu lượt, tăng 14,9%, cao nhất trong cùng kỳ nhiều năm qua.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục khởi sắc. Trong 6 tháng có 169,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 11,2% so với cùng kỳ; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 12,9%; thu hút FDI đạt 34,65 tỷ USD, vốn FDI thực hiện ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng lần lượt 61% và 11,2%.
Hạ tầng chiến lược có nhiều đột phá; tiến độ các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm giao thông vận tải, năng lượng và phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 được đẩy nhanh. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đồng thời chỉ đạo cập nhật kịch bản tăng trưởng những tháng cuối năm, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “2 con số”; xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính; đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng, đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ và an toàn thực phẩm.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được chú trọng. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06 được đẩy mạnh; Trung tâm dữ liệu quốc gia đi vào vận hành; hạ tầng số, chất lượng dịch vụ công trực tuyến được nâng lên. Ngành giáo dục tích cực chuẩn bị năm học 2026 - 2027, thực hiện chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới. Ngành y tế làm tốt công tác khám, chữa bệnh; miễn phí khám, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế từ ngày 01/7/2026; Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 hoạt động từ ngày 26/6/2026; Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 dự kiến hoạt động ngày 10/7/2026.
Công tác an sinh xã hội, “đền ơn đáp nghĩa” được triển khai kịp thời, đồng bộ. Trong 06 tháng, các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã giải ngân gần 91,1 nghìn tỷ đồng cho gần 1,3 triệu lượt khách hàng chính sách. Thu nhập bình quân người lao động đạt khoảng 9 triệu đồng/tháng, tăng 8,7% so với cùng kỳ; bảo đảm đủ nguồn tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026. Công tác phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm an toàn trong mùa mưa bão và phòng, chống đuối nước cho trẻ em được quan tâm.
Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, cải cách thủ tục hành chính và tinh gọn tổ chức bộ máy được triển khai quyết liệt. Quốc phòng, an ninh được củng cố; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được đẩy mạnh. Công tác đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao và đa phương, được triển khai toàn diện, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2026 vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Tăng trưởng GDP chưa đạt mục tiêu; lạm phát còn tiềm ẩn rủi ro; giải ngân vốn đầu tư công tại một số dự án trọng điểm còn chậm; các động lực tăng trưởng chưa phát huy hết tiềm năng. Một số vướng mắc về thể chế, thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp chưa được khắc phục triệt để. Thiên tai, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường cùng tình hình tội phạm công nghệ cao, lừa đảo qua mạng, buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ và an toàn thực phẩm còn diễn biến phức tạp.
Tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026, Chính phủ đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ít nhất 10%; điều hành đồng bộ chính sách tài khóa, tiền tệ, hướng tín dụng vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, nhà ở và hạ tầng thiết yếu; tăng cường quản lý tài chính - ngân sách, chống thất thu, chuyển giá và lãng phí.
Hai là, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt 100% kế hoạch; bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án quan trọng quốc gia, công trình giao thông, năng lượng, hạ tầng chiến lược, hạ tầng số và các chương trình mục tiêu quốc gia; tập trung tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài.
Ba là, khơi thông các động lực tăng trưởng truyền thống, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới; phát triển đồng bộ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới, kinh tế biển; ưu tiên phát triển bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lõi, hạ tầng số và các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Bốn là, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm và chuỗi cung ứng; khai thác hiệu quả các FTA, phát triển thị trường trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, phòng vệ thương mại và truy xuất nguồn gốc; thúc đẩy kinh tế tư nhân, thu hút FDI có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực.
Năm là, tiếp tục đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; kịp thời ban hành các văn bản quy định chi tiết, rà soát, xử lý những quy định chồng chéo, bất cập, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, môi trường và tài sản công.
Sáu là, tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp; đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, mở rộng dịch vụ công trực tuyến và thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính.
Bảy là, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, ưu đãi người có công và trợ cấp xã hội; phát triển nhà ở xã hội; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và bảo đảm an toàn cho trẻ em, học sinh.
Tám là, chủ động phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế; tăng cường phòng, chống thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập lụt, bão lũ, sạt lở; thúc đẩy phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa.
Chín là, tăng cường thanh tra, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo từ cơ sở; giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, chuyển hóa các cam kết quốc tế thành nguồn lực phát triển đất nước.
Mười là, chủ động xây dựng kế hoạch năm 2027 ngay từ quý III năm 2026, đặt trong tầm nhìn giai đoạn 2026 - 2030; xác định rõ chỉ tiêu, điểm nghẽn, nhiệm vụ, nguồn lực và trách nhiệm của người đứng đầu; chấm dứt tình trạng nêu khó khăn nhưng không có phương án xử lý.
6. Phát huy vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV diễn ra từ ngày 17 - 18/6/2026 tại Thủ đô Hà Nội với chủ đề “Phụ nữ Việt Nam phát huy truyền thống, bản lĩnh, trí tuệ, trách nhiệm; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh; thúc đẩy bình đẳng giới, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, chung sức xây dựng đất nước dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” đã thành công tốt đẹp, thể hiện trên nhiều phương diện quan trọng:
Trước hết, công tác chuẩn bị Đại hội, nhất là chuẩn bị văn kiện, được tiến hành công phu, chu đáo, bài bản, có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp. Báo cáo Chính trị trình Đại hội được xây dựng trên cơ sở bám sát chủ trương, định hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, định hướng của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thực tiễn phong trào phụ nữ, hoạt động Hội. Đại hội đã thông qua Điều lệ Hội LHPN Việt Nam sửa đổi, bổ sung, trong đó nhiều nội dung được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động mới.
Hai là, công tác nhân sự được thực hiện kỹ lưỡng, chặt chẽ, dân chủ, khách quan, công tâm. Đại hội đã bầu 111/127 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XIV. Tại Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ nhất, 24 đồng chí được bầu tham gia Ban Thường vụ; đồng chí Lê Thị Thủy được bầu giữ chức Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XIV; 03 Phó Chủ tịch Hội và 11 thành viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Hội khóa II cũng được bầu theo quy định.
Ba là, hình thức thảo luận, trao đổi thông tin tại Đại hội tiếp tục được đổi mới. Đại hội có 62 tham luận dạng bài viết và video clip được tập hợp thành kỷ yếu; 12 tham luận được trình bày tại các phiên toàn thể. Đại hội tổ chức 04 Trung tâm thảo luận với 34 ý kiến phát biểu, tạo điều kiện để đại biểu trao đổi sâu về phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, Chương trình hành động nhiệm kỳ 2026 - 2031, góp phần nâng cao chất lượng thảo luận và tạo thuận lợi cho việc triển khai Nghị quyết ngay sau Đại hội.
Bốn là, công tác thông tin, tuyên truyền về Đại hội được triển khai đồng bộ, rộng khắp, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong cán bộ, hội viên, phụ nữ và các tầng lớp nhân dân. Trước, trong và sau Đại hội, các cấp Hội đã chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, kết hợp truyền thông trực tiếp với truyền thông số, mạng xã hội; qua đó góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin, khơi dậy niềm tự hào, tinh thần trách nhiệm của phụ nữ Việt Nam đối với tổ chức Hội và sự phát triển của đất nước.
Năm là, công tác tổ chức, hậu cần, an ninh, an toàn được bảo đảm chu đáo, trang trọng, thiết thực, hiệu quả, góp phần quan trọng vào thành công chung của Đại hội.
Đại hội xác định mục tiêu chung của nhiệm kỳ 2026 - 2031 là: Phát huy truyền thống, tinh thần đổi mới, sáng tạo, làm chủ tri thức, tự tin, hội nhập, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ; tích cực tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng đội ngũ cán bộ Hội bản lĩnh, tận tâm, sáng tạo, bứt phá; xây dựng tổ chức Hội hoạt động hiệu quả, thích ứng với bối cảnh mới; huy động sự tham gia của toàn xã hội trong thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát triển toàn diện cho phụ nữ. Phấn đấu đến năm 2030, phụ nữ Việt Nam trở thành một động lực phát triển, một điểm tựa hạnh phúc; Hội LHPN Việt Nam trở thành tổ chức tiên phong hành động vì sự bình đẳng và phát triển của phụ nữ, góp phần xây dựng đất nước dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Nghị quyết Đại hội xác định mục tiêu, chỉ tiêu, các khâu đột phá, nhiệm vụ trọng tâm và nhóm giải pháp của phong trào phụ nữ và công tác Hội trong nhiệm kỳ mới, với nhiều điểm mới quan trọng:
Thứ nhất, sự đổi mới về tư duy phát triển theo hướng tiếp tục khẳng định phụ nữ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của sự phát triển. Phụ nữ không chỉ được tham gia vào các hoạt động xã hội mà phải thực sự trở thành một trong những chủ thể quan trọng nhất kiến tạo tương lai phát triển của đất nước, chủ động phát huy truyền thống, bản lĩnh, trí tuệ, trách nhiệm và khát vọng vươn lên để cống hiến cho đất nước trong kỷ nguyên mới. 
Thứ hai, Nghị quyết xác định 03 khâu đột phá mang tính chiến lược của nhiệm kỳ (tăng 01 khâu đột phá so với nhiệm kỳ trước), gồm: (1) Phát huy vai trò của tổ chức Hội trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới; (2) Chuyển đổi số toàn diện trong hệ thống Hội, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung hướng mạnh về cơ sở, gần dân, vì dân; (3) Thúc đẩy phụ nữ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, làm giàu chính đáng.
Thứ ba, Nghị quyết xác định 5 nhiệm vụ trọng tâm (tăng 2 nhiệm vụ so với nhiệm kỳ trước), cụ thể: (1) Hỗ trợ phụ nữ phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới; xây dựng gia đình tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc. (2) Hỗ trợ nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước. (3) Vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới vì sự phát triển của phụ nữ. (4) Tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tham gia quản lý nhà nước, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. (5) Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, thực hiện hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân và hội nhập quốc tế.
Thứ tư, Nghị quyết điều chỉnh từ 08 lên 12 chỉ tiêu, bảo đảm cụ thể, rõ ràng, thuận lợi cho tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả. Các chỉ tiêu tập trung vào 05 nhóm nội dung: (1) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, phát triển toàn diện phụ nữ và xây dựng gia đình; (2) Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo, khởi nghiệp, phát triển hợp tác xã; (3) An sinh xã hội, bảo vệ phụ nữ và trẻ em; (4) Tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, giám sát, phản biện xã hội và đối thoại chính sách; (5) Xây dựng tổ chức Hội, phát triển hội viên, nâng cao năng lực cán bộ và đối ngoại nhân dân.
Thứ năm, về giải pháp, ngoài 03 nhóm giải pháp chung, Nghị quyết xác định các nhóm giải pháp cụ thể gắn với từng nhiệm vụ, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và hiệu quả. Chương trình hành động được xây dựng với nội dung cụ thể, phân công rõ trách nhiệm, xác định nguồn lực và thời gian thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi để đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Thứ sáu, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết được xây dựng rất bài bản, phân cấp rõ ràng về nguồn lực, xác định cụ thể mốc thời gian và trình xin ý kiến trực tiếp ngay tại Đại hội để tiếp thu tối đa trí tuệ tập thể trước khi hoàn thiện ban hành.
Thứ bảy, ngay sau Đại hội, Trung ương Hội đã kịp thời thông báo nhanh kết quả và tổ chức tập huấn triển khai Nghị quyết, góp phần nâng cao nhận thức, thống nhất hành động trong toàn hệ thống Hội.
Thành công của Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV mở ra giai đoạn phát triển mới của phong trào phụ nữ và hoạt động hội. Các tầng lớp phụ nữ Việt Nam quyết tâm đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống bằng những hành động cụ thể, thiết thực, hiệu quả; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
7. Mục tiêu, nhiệm vụ tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Nhằm mục tiêu tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong phòng ngừa, phát hiện sớm, ứng phó các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; nâng cao năng lực truyền thông, dự báo, cảnh báo và ứng phó của quốc gia; góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Đến năm 2030, 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp được quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Chiến lược quốc gia về phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. 100% bộ, ngành, địa phương và đơn vị lực lượng vũ trang đưa nội dung tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an ninh phi truyền thống vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm. 100% cơ sở giáo dục triển khai hoạt động tuyên truyền, giáo dục phù hợp về phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Hằng năm, các bộ, ngành, địa phương tổ chức các hoạt động tuyên truyền thường xuyên và chuyên đề phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn và lĩnh vực quản lý.
100% bộ, ngành, địa phương xây dựng đầu mối và cơ chế phối hợp truyền thông về các vấn đề liên quan đến an ninh phi truyền thống. Hằng năm tổ chức các đợt tuyên truyền trọng điểm cấp quốc gia, cấp bộ, ngành, địa phương gắn với các nguy cơ, thách thức an ninh phi truyền thống nổi lên; từng bước nâng cao năng lực xử lý tin giả, thông tin sai lệch và khủng hoảng truyền thông. 100% tỉnh, thành phố xây dựng và duy trì ít nhất 01 mô hình điểm về tuyên truyền, nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Từng bước nhân rộng các mô hình hiệu quả trong cộng đồng dân cư, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và các địa bàn trọng điểm.
Đến năm 2045 hình thành xã hội an toàn, có khả năng thích ứng cao; công tác tuyên truyền trở thành hoạt động thường xuyên, có hệ sinh thái truyền thông hiện đại; người dân có kỹ năng tự phòng ngừa, tự bảo vệ; hệ thống chính trị và lực lượng nòng cốt đủ năng lực dự báo, cảnh báo sớm, xử lý khủng hoảng truyền thông và ứng phó toàn diện với mọi đe dọa an ninh phi truyền thống.
Đề án “Tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt bởi Quyết định số 1125/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 đưa ra một số nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: 
Xác định công tác tuyên truyền là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Xây dựng hệ thống nội dung tuyên truyền thống nhất, khoa học, dễ tiếp cận; tập trung nâng cao nhận thức về các nguy cơ an ninh phi truyền thống, kỹ năng phòng ngừa, ứng phó và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; hình thành bộ thông điệp truyền thông quốc gia làm cơ sở triển khai đồng bộ trong toàn quốc.
Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền; phát huy vai trò của báo chí, xuất bản, hệ thống thông tin cơ sở, nền tảng số và mạng xã hội; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, phân phối, lan tỏa nội dung truyền thông; nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của người dân. Xây dựng cơ chế truyền thông chủ động, kịp thời, chính xác; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, định hướng dư luận xã hội; tăng cường khả năng phát hiện, xử lý tin giả, thông tin sai sự thật và các tình huống khủng hoảng truyền thông liên quan đến an ninh phi truyền thống.
Chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; ngăn chặn việc lợi dụng các vấn đề an ninh phi truyền thống để xuyên tạc, kích động, gây mất ổn định xã hội; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đẩy mạnh giáo dục, phổ biến kiến thức, kỹ năng cho Nhân dân; phát huy vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và các tổ chức xã hội; xây dựng, nhân rộng các mô hình hiệu quả về phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ an ninh phi truyền thống.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên có trình độ chuyên môn, kỹ năng truyền thông hiện đại; hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các bộ, ngành, địa phương; mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu kinh nghiệm và tranh thủ nguồn lực phục vụ công tác tuyên truyền. Ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện Đề án theo quy định của pháp luật; đẩy mạnh xã hội hóa phù hợp; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, nhân rộng các mô hình, cách làm hiệu quả.
8. Một số quy định, quy chế mới về công tác đảng 
* Quy định về thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở: Quy định số 203-QĐ/TW ngày 19/6/2026 của Ban Bí thư về thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở. Quy định này quy định về nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng ủy cơ sở được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở. Áp dụng đối với đảng ủy cơ sở trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước mà cấp trên trực tiếp không phải là tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; đảng ủy cơ sở trực thuộc đảng ủy doanh nghiệp nhà nước; đảng ủy cơ sở trực thuộc đảng ủy xã, phường, đặc khu đang được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở (trừ đảng ủy cơ sở trong lực lượng vũ trang).
Thực hiện thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở bảo đảm đúng chủ trương, quy định của Đảng; chặt chẽ, thận trọng và đủ điều kiện. Việc thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở do đảng ủy cấp trên trực tiếp đề nghị; tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương quyết định và báo cáo kết quả với Ban Tổ chức Trung ương sau khi quyết định thí điểm giao quyền. Cấp ủy cấp trên trực tiếp cần tạo điều kiện để đảng ủy cơ sở được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở thực hiện hiệu quả, đúng quy định các quyền hạn được giao; bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.
Đảng bộ cơ sở khi có đủ các điều kiện sau đây thì đảng ủy được xem xét thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở: Có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Có nhiều đơn vị thành viên là tổ chức cơ sở trong cùng một cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước; hoạt động trên nhiều địa phương. Có số lượng từ 400 đảng viên trở lên. Là đảng bộ có 3 năm liền gần nhất hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (bảo đảm năng lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy được giao). Trường hợp đảng bộ cấp trên cơ sở, đảng bộ cơ sở mà đảng ủy đã được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, sau khi chia tách, hợp nhất, sáp nhập vẫn bảo đảm đủ điều kiện theo quy định thì tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương xem xét, quyết định thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở và báo cáo kết quả với Ban Tổ chức Trung ương.
Đảng ủy cơ sở được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng ủy cấp trên cơ sở tương ứng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và các quy định của Đảng. Đồng thời, ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương xem xét, quyết định giao cho đảng ủy cơ sở một số quyền cấp trên cơ sở.
* Quy chế phối hợp công tác giữa đảng ủy bộ, ngành Trung ương với cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục đại học công lập: Quyết định số 204-QĐ/TW ngày 26/6/2026, ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa đảng ủy bộ, ngành Trung ương với cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục đại học công lập. 
Theo Quy chế, Đảng ủy bộ, ngành và cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định; đồng thời phối hợp chặt chẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo đảng ủy, chi bộ cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ chính trị, chiến lược phát triển, quy hoạch mạng lưới cơ sở đại học công lập, công tác đào tạo, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, nghiên cứu khoa học, công nghệ, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, công tác tổ chức, cán bộ trong cơ sở giáo dục và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, quản lý học viên, sinh viên, học sinh (nếu có) trên địa bàn, tham gia phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. 
Việc phối hợp công tác phải bảo đảm tuân thủ Điều lệ Đảng, nghị quyết, quy định, quyết định, hướng dẫn của Trung ương, pháp luật của Nhà nước; giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của đảng ủy bộ, ngành, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy địa phương và phát huy cơ chế tự chủ của cơ sở giáo dục theo quy định.
Về nội dung phối hợp, Quy chế quy định Đảng ủy bộ, ngành chỉ đạo cơ sở giáo dục đặt trên địa bàn định kỳ hoặc khi cần thiết báo cáo với cấp ủy địa phương về kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị, chiến lược phát triển, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục, công tác đào tạo, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, nghiên cứu khoa học, công nghệ hằng năm của cơ sở giáo dục liên quan đến địa phương.
Đảng ủy bộ, ngành chủ trì, phối hợp với cấp ủy địa phương lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục tham gia đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, tư vấn chính sách, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, môi trường và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ sở giáo dục. Khi có sự việc đột xuất (thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, các vấn đề phức tạp phát sinh trong học sinh, sinh viên...) xảy ra ở cơ sở giáo dục, đảng ủy bộ, ngành chủ động phối hợp với cấp ủy địa phương lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời.
* Quy định mới về chức năng, bộ máy của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực: Quy định số 205-QĐ/TW ngày 26/6/2026 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. 
Theo Quy định, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực do Bộ Chính trị thành lập, có chức năng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong phạm vi cả nước. Trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; các vụ án, vụ việc tiêu cực gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; các vụ án, vụ việc gây lãng phí nghiêm trọng tài chính công, tài sản công, dư luận xã hội quan tâm (gọi chung các loại vụ án, vụ việc này là vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm). Ban Chỉ đạo chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

Tác giả: Tuong Mai Van

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây