THÔNG TIN NỘI BỘ

http://noibo.angiang.dcs.vn


Thông tin trong nước (số tháng 7 năm 2026)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Tổ chức Trung ương, chiều 03/6/2026. Ảnh: TL

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Tổ chức Trung ương, chiều 03/6/2026. Ảnh: TL

 
1. Nhiệm vụ xây dựng Đảng trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới
Tại cuộc làm việc với Ban Tổ chức Trung ương, chiều 03/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo, định hướng về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tổ chức xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trong đó yêu cầu một số nội dung quan trọng sau: 
Một là, thống nhất nhận thức xây dựng Đảng, tổ chức, cán bộ là năng lực gốc của quản trị quốc gia. Trong giai đoạn phát triển mới, công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ không chỉ là nhiệm vụ nội bộ của Đảng, mà là năng lực gốc của quản trị quốc gia; là điều kiện quyết định để biến đường lối thành hiện thực, biến nghị quyết thành hành động, biến nguồn lực thành phát triển, biến niềm tin của Nhân dân thành sức mạnh. Xây dựng Đảng trong giai đoạn mới không chỉ là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, mà còn phải xây dựng một Đảng đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín, năng lực và phương thức lãnh đạo phù hợp để dẫn dắt đất nước trong kỷ nguyên mới. Phải thấy rõ nguy cơ hiện nay không chỉ là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, mà còn là trì trệ về tư duy, tụt hậu về năng lực quản trị, yếu kém trong tổ chức thực hiện, hành chính hóa trong lãnh đạo, quan liêu, xa dân, làm giảm niềm tin của Nhân dân. 
Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo là làm cho sự lãnh đạo của Đảng đúng hơn, trúng hơn, sâu sát hơn, hiệu quả hơn; bảo đảm Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, định hướng chiến lược, bằng tổ chức cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát, bằng nêu gương, bằng thuyết phục và bằng kết quả thực tiễn. Trên tinh thần đó, công tác tham mưu phải chuyển mạnh từ phản ứng, xử lý vụ việc phát sinh sang chủ động dự báo, đón đầu xu hướng, chuẩn bị từ sớm, từ xa những vấn đề lớn về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ. Phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy lãnh đạo kiến tạo phát triển; từ coi trọng quy trình sang coi trọng kết quả; từ đánh giá bằng báo cáo sang đánh giá bằng sản phẩm; từ kiểm tra hình thức sang kiểm soát bằng trách nhiệm, dữ liệu và hiệu quả thực thi. Nghị quyết phải đi vào cuộc sống bằng chương trình hành động cụ thể; chương trình hành động phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, rõ thời hạn, rõ sản phẩm.
Ba là, tinh gọn bộ máy mới là điều kiện; vận hành hiệu quả mới là mục tiêu. Sắp xếp tổ chức bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm biên chế, mà sâu xa hơn là thiết kế lại kiến trúc vận hành của hệ thống chính trị để bộ máy thông suốt hơn, rõ chức năng hơn, rõ thẩm quyền hơn, rõ trách nhiệm hơn, gần dân hơn và phục vụ tốt hơn. Cơ sở là nơi kiểm nghiệm rõ nhất chất lượng lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước và niềm tin của Nhân dân. Cấp xã, phường, đặc khu không chỉ là cấp hành chính ở cơ sở, mà là cấp trực tiếp quản trị, thực thi, phục vụ Nhân dân, xử lý những vấn đề phát sinh từ đời sống. Vì vậy, phải xây dựng cấp cơ sở đủ mạnh, đủ năng lực, đủ điều kiện, đủ thẩm quyền và đủ cán bộ để thực hiện nhiệm vụ. Bộ máy sau sắp xếp phải được đánh giá bằng thước đo thực tế.
Bốn là, đổi mới căn bản công tác cán bộ, coi đánh giá cán bộ là khâu đột phá. Trong đó nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của then chốt. Trong giai đoạn mới, cán bộ không chỉ cần bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống gương mẫu, mà còn phải có tư duy chiến lược, năng lực quản trị hiện đại, năng lực chuyển đổi số, năng lực tổ chức thực hiện, năng lực xử lý vấn đề khó, năng lực đối thoại với Nhân dân và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phải đổi mới công tác cán bộ từ “đúng quy trình” sang “đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng sở trường, đúng sản phẩm”.
Đánh giá cán bộ phải là khâu đột phá. Đánh giá đúng thì bố trí đúng, sử dụng đúng, đào tạo đúng, bảo vệ đúng, sàng lọc đúng. Cần chuyển mạnh sang đánh giá cán bộ bằng phẩm chất, năng lực, uy tín, sản phẩm cụ thể, kết quả thực hiện nhiệm vụ, dữ liệu công việc và sự tín nhiệm của Nhân dân. Đặc biệt, phải đánh giá được năng lực tổ chức thực hiện và tinh thần trách nhiệm. Không thể để người làm tốt và người làm kém đều được đánh giá gần như nhau; không thể để cán bộ trì trệ, né tránh, sợ trách nhiệm vẫn an toàn trong bộ máy; không thể để cán bộ dám làm, làm được việc, có sản phẩm, có uy tín lại không được bảo vệ, khuyến khích, sử dụng đúng. Phải thực hiện thực chất chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”. Kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ yếu kém, uy tín thấp, né tránh, trì trệ, không đáp ứng yêu cầu. Đồng thời, phải phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trưởng thành từ thực tiễn cơ sở.
Năm là, đặc biệt quan tâm đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và cán bộ cơ sở. Cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn, bản lĩnh, tư duy hệ thống, năng lực hoạch định và xử lý những vấn đề lớn, mới, khó, phức tạp. Cán bộ cơ sở phải gần dân, sát dân, hiểu dân, trọng dân, có kỹ năng tiếp dân, đối thoại, xử lý hồ sơ, giải quyết mâu thuẫn, vận hành dữ liệu và phục vụ Nhân dân, đáp ứng yêu cầu vận hành của tổ chức bộ máy mới. Cần có cơ chế mạnh mẽ hơn để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực chiến lược, bảo đảm lựa chọn, sử dụng đúng người có đức, có tài, có bản lĩnh, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, quốc gia, dân tộc và Nhân dân.
Sáu là, bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới phải được tiến hành chủ động, chặt chẽ, thận trọng, khách quan, gắn với quản lý cán bộ, đảng viên, bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước, phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất cảnh giác trên không gian mạng, nhưng không định kiến, không làm ảnh hưởng đến cán bộ tốt, cán bộ có năng lực, cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chung.
Bảy là, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên. Tổ chức cơ sở đảng phải thật sự là hạt nhân chính trị ở cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp; là nơi lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đoàn kết nội bộ, quản lý cán bộ, đảng viên, nắm bắt tình hình Nhân dân và xử lý vấn đề từ sớm, từ xa. Phải đổi mới thực chất sinh hoạt chi bộ. Sinh hoạt chi bộ phải là nơi bàn việc thật, giải quyết việc thật, kiểm điểm trách nhiệm thật; nơi bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai, khơi dậy tinh thần hành động của cán bộ, đảng viên. Phải khắc phục tình trạng sinh hoạt hình thức, nể nang, ngại va chạm, thiếu tính chiến đấu.
Phát triển đảng viên phải chú trọng chất lượng, không chạy theo số lượng. Cần quan tâm phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, kinh tế tư nhân, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, học sinh, sinh viên, công nhân, người lao động, trí thức và các lực lượng mới trong nền kinh tế số. Đồng thời, phải quản lý chặt chẽ đảng viên, rà soát, sàng lọc, kịp thời đưa những người không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.
Tám là, kiểm soát quyền lực, siết kỷ luật, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và chống trì trệ. Kiểm soát quyền lực phải được thực hiện trong toàn bộ quá trình: xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Phải kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ địa phương, thân quen, khép kín, tư duy nhiệm kỳ. Mọi quy định của Đảng phải được thực hiện nghiêm túc, nhất quán, gắn với kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm. Công tác kiểm tra, giám sát phải chuyển mạnh từ bị động sang chủ động; từ xử lý sau vi phạm sang phòng ngừa, cảnh báo sớm; từ kiểm tra vụ việc đơn lẻ sang kiểm soát rủi ro trong toàn hệ thống. Phải phát hiện sớm vi phạm từ cơ sở, không để biểu hiện nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải tiếp tục kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Nhưng cùng với chống tham nhũng, tiêu cực, phải chống cả trì trệ, né tránh, đùn đẩy, vô cảm trước yêu cầu chính đáng của Nhân dân.
Chín là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Đây không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin, mà là đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ. Phải chuyển từ số hóa hồ sơ sang tạo lập dữ liệu sống phục vụ tham mưu chiến lược, chỉ đạo điều hành, kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ. Cần xây dựng dữ liệu cán bộ, đảng viên, tổ chức bộ máy thống nhất, đồng bộ, cập nhật, liên thông, an toàn, bảo mật. Dữ liệu phải phục vụ đánh giá cán bộ, quản lý biên chế, theo dõi thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng ngừa vi phạm. Chuyển đổi số trong Đảng phải gắn với chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; phải phục vụ trực tiếp cho nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng phục vụ Nhân dân.
2. Những chỉ đạo, định hướng quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, Nghị quyết 06-NQ/TW tập trung cụ thể hóa những quan điểm của đường lối đối ngoại Đại hội XIV với 5 luận điểm lớn mang tính định hình tư tưởng:
Thứ nhất, lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển lớn về tư duy lãnh đạo của Đảng, theo đó, đối ngoại trở thành một phương thức quan trọng, một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải ở vị trí tuyến đầu và trung tâm, góp phần nhận diện và hóa giải nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.
Thứ hai, trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế.
Thứ ba, đối ngoại phải dựa trên tinh thần "tự chủ chiến lược" và "tự cường". Tự chủ chiến lược thể hiện năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi và chủ động ứng phó linh hoạt; tự cường là phát huy nội lực, tự tin dân tộc để làm cho quốc gia mạnh lên.
Thứ tư, đối ngoại vươn lên đảm nhận một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Tham gia sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.
Thứ năm, đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trên nền tảng phối hợp, bổ sung cho nhau của 3 trụ cột: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giữa ngoại giao Nghị viện với ngoại giao Nhà nước, với đối ngoại nhân dân; giữa các ban, bộ, ngành Trung ương; với sự tham gia sâu rộng của các địa phương, doanh nghiệp và người dân; sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các công cụ chính trị, kinh tế, công nghệ, văn hóa,... để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; phát huy cao nhất, tối ưu nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước.
Để ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn mới chuyển từ trạng thái ngoại giao bảo vệ không gian phát triển sang ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia; từ hội nhập thị trường sang kiến tạo thị trường; từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi và từ lớn mạnh riêng lẻ sang cùng ASEAN lớn mạnh, để không chỉ đứng vững giữa cạnh tranh chiến lược sang vươn lên nghệ thuật ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến” bằng công nghệ, thị trường, tiêu chuẩn, niềm tin và vị thế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh thêm 5 định hướng lớn, đó là:
Thứ nhất, phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại ngăn ngừa các nguy cơ khủng hoảng từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát; kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước.
Trước hết là củng cố vững chắc "vành đai an ninh - phát triển". Ưu tiên hàng đầu cho giữ gìn và phát triển quan hệ đối ngoại với các nước láng giềng; tăng cường tin cậy chính trị, kết nối chiến lược về hạ tầng, năng lượng, logistics, văn hóa, khoa học kỹ thuật... để đan xen lợi ích lâu dài; phối hợp chặt chẽ để xử lý hài hòa các vấn đề biên giới, an ninh nguồn nước, an ninh không gian, các thách thức phi truyền thống; kiểm soát tốt bất đồng, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. Củng cố đoàn kết, thống nhất, nâng cao vai trò trung tâm của ASEAN cũng như chủ động đề xuất sáng kiến thúc đẩy hợp tác ASEAN.
Với các nước lớn, chủ động, tích cực định hình, giữ gìn, phát triển quan hệ cân bằng, hài hòa, cùng có lợi, không để rơi vào thế đối đầu hoặc lệ thuộc trong quan hệ. Gia tăng lòng tin chiến lược, triển khai hiệu quả khuôn khổ quan hệ hiện có, ưu tiên các lĩnh vực, phương thức hợp tác phù hợp với ta, trong đó có kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh. Với các đối tác khác, tạo chuyển biến thực chất, khai thác tối đa dư địa từ các khuôn khổ hợp tác và Hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện có.
Trong bối cảnh có nhiều biến động, bất định như hiện nay, cần nâng cao năng lực quản trị chiến lược. Nhất là nâng cao chất lượng dự báo, tham mưu liên ngành, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đồng thời mở rộng chiều sâu hợp tác công nghiệp quốc phòng - công nghiệp an ninh; tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin, an ninh mạng, diễn tập cứu hộ - cứu nạn, gìn giữ hòa bình...
Thứ hai, đối ngoại là động lực mở ra không gian và cơ hội phát triển mới, gắn kết chặt chẽ với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đối ngoại phải có tầm nhìn chiến lược, xuyên suốt và nhất quán, giải quyết bài toán lớn đang đặt ra đối với đất nước để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược, trở thành nước phát triển, thu nhập cao và người dân phải được thụ hưởng; lấy sự hạnh phúc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân là nền tảng.
Đối ngoại chuyển trọng tâm từ "thu hút" sang “chọn lọc” và nâng chất các nguồn lực cho đột phá chiến lược. Tập trung đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn cung theo hướng nâng cao hàm lượng giá trị hàng hóa Việt Nam; chọn lọc nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), ưu tiên dự án công nghệ cao, liên kết sâu với trong nước, chuyển giao công nghệ; khơi thông các nguồn tài chính mới: ODA xanh, tín dụng khí hậu, vốn ưu đãi hạ tầng chiến lược,...
Quan hệ chính trị tốt đẹp cần được chuyển hóa thành các dự án, chương trình hợp tác thực chất, đón đầu xu thế mới. Ưu tiên triển khai đầy đủ, hiệu quả các cam kết, thoả thuận quốc tế trở thành động lực phát triển. Đồng thời đẩy mạnh ngoại giao công nghệ, tạo dựng các khuôn khổ hợp tác công nghệ, nhất là về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, lượng tử, khoáng sản chiến lược..., kết nối với các trung tâm đổi mới sáng tạo xuất sắc của thế giới, khu vực. Chủ động đàm phán, tham gia định hình luật chơi mới về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), thương mại số, tiêu chuẩn xanh và kết nối doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài với trong nước; hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, vươn ra thị trường bên ngoài.
Thứ ba, thể hiện trách nhiệm toàn cầu, tham gia đóng góp vào các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.
Việt Nam cần phát huy tiếng nói tích cực, cung cấp ý tưởng, góp phần khôi phục lòng tin và tính hiệu quả của chủ nghĩa đa phương. Chúng ta cần tích cực đóng góp vào bảo vệ trật tự thế giới dựa trên luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; tham gia cải cách hệ thống quản trị chính trị, kinh tế toàn cầu theo hướng bình đẳng, công bằng hơn cũng như đề xuất các khuôn khổ, quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế trong những lĩnh vực mới.
Với thế và lực mới, ta có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt và tham gia định hình các cơ chế đa phương phù hợp với lợi ích, khả năng và điều kiện cụ thể của ta. Việt Nam cần tích cực tham gia ứng phó với các thách thức toàn cầu, nhất là những vấn đề sát sườn, thiết thân như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, an ninh lương thực, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo,... Với vị trí đang đảm nhận trong các thể chế quốc tế, ta có thể tận dụng để lồng ghép ưu tiên của Việt Nam và ASEAN vào chương trình nghị sự.
Thứ tư, nâng tầm vị thế quốc gia tương xứng với tầm vóc lịch sử, bản sắc văn hóa, tiềm lực kinh tế và vai trò chính trị ngày càng gia tăng của đất nước, đóng góp vào nền văn minh nhân loại.
Là đất nước có nền văn hóa ngàn năm văn hiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới. Đối ngoại cần tiếp tục phát huy đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị; năng lực xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý, có tình; đề cao thượng tôn luật pháp quốc tế, biến những "sức mạnh mềm" thành sự đồng tình, ủng hộ, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần bồi đắp, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.
Khơi thông nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, gắn kết mạng lưới trí thức, học giả, doanh nhân, sinh viên với sự nghiệp phát triển đất nước. Đổi mới, hiện đại hóa phương thức thông tin đối ngoại, lan tỏa hình ảnh một Việt Nam tự cường, đổi mới và trách nhiệm. Biến ngoại giao văn hóa, ngoại giao di sản thành nguồn lực nội sinh đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước và ở từng địa phương.
Thứ năm, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới.
Nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp trước hết phải thể hiện "bản sắc ngoại giao thời đại mới", kết tinh "truyền thống vẻ vang của ngoại giao dân tộc, tính cách mạng của ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, tinh hoa của nền ngoại giao thế giới và tinh thần ngoại giao thời đại mới".
Đặc biệt phải vươn lên ngang nhóm dẫn đầu ở khu vực và vươn tầm quốc tế. Xây dựng hệ thống lý luận về đối ngoại trong kỷ nguyên mới. Tổ chức bộ máy, bố trí nguồn lực cho công tác đối ngoại đồng bộ, hợp lý, hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế, từng bước chính quy, hiện đại, chuẩn hóa; tương xứng với thế và lực của đất nước.
Từ bài học Đảng ta rút ra "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", trong kỷ nguyên mới, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại "vừa hồng, vừa chuyên": "toàn diện" về bản lĩnh, phẩm chất và trí tuệ, "hiện đại" về tư duy, phương pháp làm việc, "chuyên nghiệp" về lề lối, tác phong. Đặc biệt khơi dậy tinh thần "6 dám": "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn" vì lợi ích đất nước.
Đồng bộ với các Nghị quyết chiến lược khác, với mục tiêu "hiểu sâu, làm đúng, làm đến nơi đến chốn, làm hiệu quả"; quán triệt Nghị quyết là để hành động, hành động để tạo chuyển biến, chuyển biến để mang lại kết quả thực chất. Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 4 vấn đề lớn trong tổ chức thực hiện:
Một là, xác định rõ đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương đối ngoại và thông qua chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nếu đường lối đối ngoại của Đại hội XIV là sự kết tinh của tầm nhìn, ý chí chính trị của Đảng thì các nội dung của Nghị quyết 06-NQ/TW là sự cụ thể hóa cần thiết và quan trọng để hiện thực hóa tầm nhìn, ý chí chính trị đó. Việc triển khai Nghị quyết không phải chỉ là của các cơ quan đối ngoại mà của tất cả các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức, địa phương. Cần quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng. Chiêng có tốt thì tiếng mới vang xa”. Bằng việc làm tốt công việc của mình, từng bộ, ngành, địa phương cũng là góp phần xứng đáng vào công tác đối ngoại.
Hai là, nhanh chóng cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện của tất cả các ban, bộ, ngành, địa phương, gắn với triển khai Chương trình hành động của Chính phủ, trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và phân công cụ thể. Lấy kết quả cụ thể, tính thực tế, thực chất làm thước đo hiệu quả, loại bỏ tư duy hình thức, phô trương. Đề cao kỷ luật thực thi, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên việc triển khai Nghị quyết, qua đó nâng cao tính minh bạch và khả năng phản ứng chính sách kịp thời.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ cơ chế phối hợp liên ngành, liên lĩnh vực, giữa Trung ương và địa phương trong công tác đối ngoại: Kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước (bao gồm đối ngoại Quốc hội), đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ... tạo sức mạnh tổng hợp của đối ngoại, đưa đối ngoại trở thành một mặt trận thống nhất, vững mạnh trong đó ngoại giao cấp cao là động lực chủ công, mang tính dẫn dắt, định hướng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và hệ thống giám sát thời gian thực đối với việc thực hiện Nghị quyết, nhất là hệ thống theo dõi, đôn đốc, giám sát việc triển khai các cam kết, thỏa thuận quốc tế.
Bốn là, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, phối hợp triển khai Nghị quyết, đặc biệt là việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế; chuẩn bị triển khai xây dựng Chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới. Đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có năng lực tổ chức thực thi, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Khắc phục tình trạng yếu kém, trì trệ trong khâu tổ chức thực hiện, lấy kết quả thực chất làm tiêu chuẩn đánh giá cán bộ.
3. Một số hướng dẫn mới về công tác Đảng
* Một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng: Ngày 19/5/2026, Ban Bí thư ban hành Hướng dẫn số 01-HD/TW về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng. Hướng dẫn số 01-HD/TW được xây dựng trên cơ sở căn cứ vào Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV và Quy định số 20-QĐ/TW ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thi hành Điều lệ Đảng. Hướng dẫn này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Hướng dẫn số 06-HD/TW ngày 09/6/2025 của Ban Bí thư khóa XIII.
So với Hướng dẫn số 06-HD/TW, Hướng dẫn số 01-HD/TW có một số nội dung thay đổi cụ thể như: quy định chặt chẽ, cụ thể hơn trong việc thẩm tra lý lịch của người vào Đảng cũng như trách nhiệm của các tổ chức đảng có liên quan; mở rộng hơn về người cần thẩm tra về lý lịch, trong đó bao gồm người trực tiếp nuôi dưỡng bản thân, người trực tiếp nuôi dưỡng vợ/chồng của người vào Đảng; đồng thời yêu cầu xác định rõ năng lực hành vi dân sự của những người cần thẩm tra. Về phương pháp thẩm tra, trong khi Hướng dẫn số 06-HD/TW quy định nếu thân nhân người vào Đảng là đảng viên và lý lịch đầy đủ thì “không phải thẩm tra, xác minh”, thì ở Hướng dẫn số 01-HD/TW bổ sung thêm nội dung “phải có xác nhận của cấp ủy quản lý hồ sơ đảng viên". Việc kiểm soát hồ sơ khi người vào Đảng chuyển cơ quan, đơn vị cũng được quy định cụ thể và chặt chẽ hơn, trong đó nêu rõ thời gian chuyển hồ sơ, đơn vị chịu trách nhiệm tiếp nhận, tổ chức lễ kết nạp.
Về tặng Huy hiệu Đảng, hướng dẫn nêu, đảng viên có đủ 30, 35, 40, 45, 50, 55, 60, 65, 70, 75, 80, 85, 90, 95 năm tuổi Đảng được xét tặng Huy hiệu Đảng. Đảng viên có đủ 35 năm, 95 năm tuổi Đảng được xét tặng Huy hiệu Đảng từ ngày 08/4/2026. Đảng viên có trên 35 năm đến dưới 40 năm tuổi Đảng được xét tặng Huy hiệu 35 năm tuổi Đảng, hoàn thành trao tặng trước ngày 07/11/2026; không tặng, truy tặng Huy hiệu 35 năm tuổi Đảng đối với những đảng viên đã nhận hoặc đang đề nghị tặng, truy tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.
Đảng viên bị bệnh nặng được xét tặng Huy hiệu 30, 35, 40, 45, 50, 55, 60, 65 năm tuổi Đảng sớm, nhưng thời gian xét tặng sớm không được quá 12 tháng so với thời gian quy định; được xét tặng Huy hiệu 70, 75, 80, 85, 90, 95 năm tuổi Đảng sớm, nhưng thời gian xét tặng sớm không được quá 24 tháng so với thời gian quy định. Đảng viên từ trần được xét truy tặng Huy hiệu Đảng sớm, nhưng thời gian xét truy tặng sớm không được quá 12 tháng so với thời gian quy định.
Việc trao tặng Huy hiệu Đảng được tổ chức kịp thời vào dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn 3-2, 19-5, 2-9, 7-11 và các dịp kỷ niệm quan trọng khác tại tổ chức cơ sở đảng. Trường hợp đặc biệt, Ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh xem xét, quyết định.
* Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quy chế làm việc mẫu của đảng ủy các cơ quan đảng, đảng ủy ủy ban nhân dân cấp tỉnh nêu rõ: 
Đảng ủy các cơ quan đảng cấp tỉnh là cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy và là đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của tỉnh ủy, hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân cấp tỉnh, các hội quần chúng cấp tỉnh do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
Đảng ủy có chức năng lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng các cơ quan, đơn vị, tổ chức vững mạnh; kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong đảng bộ chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đề xuất, kiến nghị với tỉnh ủy về những vấn đề có liên quan đến sự lãnh đạo của cấp trên đối với đảng bộ, các chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng trong đảng bộ.
Đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy, tập thể thường trực đảng ủy làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quyết định theo đa số; chấp hành nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Đảng ủy và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ. Đối với những chủ trương công tác, vấn đề quan trọng, vượt thẩm quyền phải xin ý kiến ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy; khi bàn về nhân sự diện ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quản lý mà các thành viên đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy có ý kiến khác nhau, qua thảo luận không thống nhất (biểu quyết không đạt đa số quá bán) thì báo cáo đầy đủ các ý kiến khác nhau đó với ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy.
Cá nhân được quyền phát biểu và bảo lưu ý kiến của mình, nhưng phải chấp hành nghị quyết của tập thể. Ý kiến bảo lưu có thể được phản ánh lên cấp trên, nhưng không được tuyên truyền, phổ biến ra bên ngoài. Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; nêu cao tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân, nhất là người đứng đầu. Thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Tập thể thường trực đảng ủy giải quyết các công việc thường xuyên và các công việc đã được ban thường vụ đảng ủy phân cấp, ủy quyền; đối với các vấn đề quan trọng, cấp bách thuộc thẩm quyền của ban thường vụ đảng ủy thì phải báo cáo xin ý kiến ban thường vụ đảng ủy xem xét, quyết định.
Đảng ủy ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy và là đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng; chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên của ban thường vụ, thường trực tỉnh ủy; có chức năng lãnh đạo, chỉ đạo ủy ban nhân dân tỉnh, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh và các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy.
Đảng ủy, ban thường vụ, các tập thể làm việc theo chương trình, kế hoạch công tác đã được tập thể thông qua; theo chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên hoặc khi có yêu cầu đột xuất. Đảng ủy xây dựng chương trình công tác toàn khóa và hằng năm; Ban thường vụ đảng ủy làm việc theo chương trình công tác toàn khóa, hằng năm, 6 tháng, hằng quý, hằng tháng (có điều chỉnh khi cần thiết).
Văn phòng đảng ủy phối hợp các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của đảng ủy, các cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan, đơn vị liên quan, các tổ chức đảng trực thuộc tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện hiệu quả chương trình làm việc của đảng ủy, ban thường vụ, các tập thể. Ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó bí thư đảng ủy căn cứ chương trình công tác của đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy, các tập thể chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của mình, tăng cường làm việc với cấp dưới và cơ sở; thường xuyên tiếp xúc với cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Ban Bí thư yêu cầu, tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo đảng ủy các cơ quan đảng, đảng ủy ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ Quyết định này để ban hành Quy chế làm việc, cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác phù hợp với tình hình thực tiễn. Các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương rà soát, tham mưu cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi các quy định, quy chế có liên quan phù hợp chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, Quy chế làm việc mẫu của đảng ủy các cơ quan đảng, đảng ủy ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành kèm theo Quyết định này.
4. Phát huy đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ
Công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ luôn được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc. Đây không chỉ là trách nhiệm đối với các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Giai đoạn 2021-2025, cả nước đã tìm kiếm, quy tập được gần 7.000 hài cốt liệt sĩ; tiếp nhận gần 13.500 mẫu hài cốt và mẫu thân nhân phục vụ giám định; xác định được danh tính hơn 100 liệt sĩ bằng phương pháp ADN và hơn 2.500 liệt sĩ bằng phương pháp thực chứng. Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu và ngân hàng gen thân nhân liệt sĩ tiếp tục được đẩy mạnh với gần 60.000 mẫu sinh phẩm đã được thu nhận, tạo cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi xác định danh tính liệt sĩ trong thời gian tới.
Tuy nhiên, khối lượng công việc còn rất lớn. Hiện nay, cả nước vẫn còn khoảng 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy và trên 300.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Trong khi đó, nguồn thông tin ngày càng hạn chế, nhân chứng lịch sử ngày càng ít, địa hình và hiện trạng nhiều khu vực đã thay đổi theo thời gian, làm gia tăng khó khăn đối với công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và nguyện vọng của thân nhân liệt sĩ, ngày 02/4/2026, Ban Chỉ đạo quốc gia đã phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, triển khai từ ngày 15/3/2026 đến ngày 27/7/2027, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027). Chiến dịch đặt ra các mục tiêu trọng tâm gồm: tìm kiếm, quy tập khoảng 7.000 hài cốt liệt sĩ; hoàn thành lấy mẫu đối với khoảng 230.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính; giám định ADN khoảng 18.000 mẫu hài cốt; xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu gen thân nhân liệt sĩ; đẩy mạnh rà phá bom mìn, vật nổ phục vụ công tác tìm kiếm tại các địa bàn trọng điểm.
Ngay sau khi phát động, các bộ, ngành, địa phương và lực lượng chức năng đã tích cực triển khai nhiệm vụ theo kế hoạch. Bộ Quốc phòng tiếp tục duy trì hoạt động của 24 đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trong nước, tại Lào và Campuchia; đồng thời giao chỉ tiêu cụ thể cho các đơn vị thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2026 - 2027. Đến nay đã tìm kiếm, quy tập được 1.109 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 242 hài cốt trong nước, 173 hài cốt tại Lào và 694 hài cốt tại Campuchia; phát hiện thêm các địa điểm nghi có mộ liệt sĩ tập thể để tiếp tục xác minh, khảo sát và tổ chức tìm kiếm.
Công tác rà phá bom mìn, vật nổ phục vụ tìm kiếm, quy tập được triển khai đồng bộ tại nhiều địa bàn trọng điểm. Các quân khu đã thành lập 360 đội rà phá với gần 5.000 cán bộ, chiến sĩ tham gia; huy động hơn 1.300 thiết bị chuyên dụng phục vụ nhiệm vụ. Đến nay đã rà phá được khoảng 3.500 ha đất, trong đó nhiều khu vực trọng điểm đã đạt tỷ lệ hoàn thành cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng phạm vi tìm kiếm trong thời gian tới.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chiến dịch là tổ chức lấy mẫu hài cốt liệt sĩ chưa xác định được thông tin để phục vụ giám định ADN. Bộ Quốc phòng đã ban hành đầy đủ quy trình kỹ thuật, tổ chức tập huấn toàn quốc và hướng dẫn các địa phương triển khai thống nhất. Đến nay, 100% quân khu, tỉnh, thành phố đã xây dựng kế hoạch thực hiện; thành lập gần 300 tổ, đội lấy mẫu với hơn 3.600 nhân sự tham gia; bước đầu tổ chức lấy mẫu tại hàng nghìn phần mộ liệt sĩ đủ điều kiện phục vụ công tác giám định và xác định danh tính.
Cùng với đó, việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang trở thành một trong những giải pháp đột phá nhằm nâng cao hiệu quả Chiến dịch. Hệ thống phần mềm quản lý thông tin mẫu hài cốt liệt sĩ, phần mềm theo dõi tiến độ và cơ sở dữ liệu phục vụ đối sánh ADN đang được hoàn thiện và đưa vào vận hành. Các cơ quan chức năng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong số hóa hồ sơ liệt sĩ, nhận diện thông tin, phân tích dữ liệu và xây dựng ngân hàng gen, góp phần nâng cao độ chính xác và rút ngắn thời gian xác minh, đối sánh thông tin.
Thời gian tới, Ban Chỉ đạo quốc gia xác định tiếp tục tập trung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; đẩy mạnh công tác rà soát, thu thập, xác minh thông tin; tổ chức các hội thảo khoa học xác minh thông tin mộ liệt sĩ tập thể; mở rộng việc thu nhận ADN thân nhân liệt sĩ trên phạm vi toàn quốc; đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và cơ sở dữ liệu số trong toàn bộ quy trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, huy động sự tham gia của các cấp, các ngành, địa phương và nhân dân trong cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ, tạo sức mạnh tổng hợp để hoàn thành các mục tiêu của Chiến dịch.
Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương cùng quyết tâm của các lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, Chiến dịch 500 ngày đêm đang tạo chuyển biến tích cực trong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đây là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, góp phần tri ân các anh hùng liệt sĩ, đáp ứng nguyện vọng của thân nhân và nhân dân, đồng thời tiếp tục bồi đắp truyền thống yêu nước, đạo lý nhân văn và trách nhiệm đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc.
5. Nguyên tắc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố
Nhằm bảo đảm việc triển khai được thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả việc sắp xếp thôn, tổ dân phố trong cả nước, phù hợp với yêu cầu quản lý trong tình hình mới, Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ nguyên tắc, yêu cầu sắp xếp như sau: 
Việc sắp xếp thôn, tổ dân phố phải bảo đảm phù hợp với tiêu chí, điều kiện theo quy định của Chính phủ và yêu cầu quản lý của địa phương khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời xem xét đầy đủ các yếu tố đặc thù về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư, nhất là tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có yếu tố tôn giáo; gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, mục tiêu tăng trưởng “2 con số” và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.
Trong quá trình triển khai thực hiện phải giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, không để xảy ra điểm nóng, vụ việc phức tạp ở cơ sở; giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết cộng đồng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Việc bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, đúng quy định gắn với quá trình triển khai thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố ở địa phương; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách, bảo đảm ổn định tư tưởng và quyền lợi của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức. Lựa chọn, giới thiệu người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là người có uy tín, sức khỏe, tâm huyết, trách nhiệm, năng lực vận động quần chúng nhân dân, từng bước trẻ hóa, nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng quản trị cộng đồng và chất lượng, hiệu quả phục vụ Nhân dân. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận cao của Nhân dân; bảo đảm người dân được thông tin đầy đủ, tham gia góp ý, giám sát việc sắp xếp thôn, tổ dân phố theo đúng quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Ngày 26/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; nêu rõ nguyên tắc tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố như sau: 
Tổ chức của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; phù hợp với quy mô dân cư, đặc điểm địa bàn và yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương cấp xã. Bảo đảm và đề cao tính tự quản của cộng đồng dân cư; phát huy quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân trong tổ chức đời sống cộng đồng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương. Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phân định rõ nhiệm vụ tự quản của cộng đồng dân cư với nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã.
Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố với Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản trên địa bàn; phát huy vai trò của Nhân dân trong bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng dân cư. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, tạo thuận lợi cho Nhân dân tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động cộng đồng và phối hợp với chính quyền địa phương cấp xã trong các hoạt động tại địa bàn.
6. Hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Với quan điểm hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu là nhiệm vụ ưu tiên trọng tâm, xuyên suốt; trong đó tập trung thúc đẩy hoạt động nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ là ưu tiên hàng đầu, qua đó khơi dậy khát vọng làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, khẳng định vị thế của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trong khu vực và quốc tế. Nhà nước ưu tiên tập trung nguồn lực, kiến tạo thể chế đột phá; bảo đảm hạ tầng số hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cung cấp dịch vụ tại thị trường nước ngoài; hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tạo ra các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số đa dạng, chất lượng, khẳng định uy tín thương hiệu Make in Viet Nam, đáp ứng nhu cầu trong nước và năng lực cạnh tranh với các sản phẩm công nghệ số nước ngoài.
Phát triển hệ sinh thái các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lớn mạnh, trong đó hình thành các doanh nghiệp công nghệ số chủ lực, có năng lực dẫn dắt các doanh nghiệp công nghệ số vừa và nhỏ tham gia chuỗi cung ứng theo từng thị trường hoặc theo lĩnh vực; chuyển dịch từ các công đoạn gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, làm chủ, đổi mới sáng tạo, sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ công nghệ số Make in Viet Nam ra thị trường quốc tế. Thúc đẩy thị trường công nghệ số trong nước, phát triển đội ngũ nhân lực công nghệ số chất lượng cao là nền tảng và bệ phóng vững chắc để doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, khẳng định vị thế và chinh phục thị trường quốc tế.
Đề án Hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được phê duyệt bởi Quyết định số 982/QĐ-TTg, ngày 04/6/2026, nêu rõ mục tiêu: Phát triển đội ngũ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao, làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, đủ khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số mạnh, bền vững, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số, nâng cao vị thế, thương hiệu quốc gia Make in Viet Nam trên thị trường khu vực và quốc tế.
Đến năm 2030, phấn đấu có tối thiểu 5.000 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường quốc tế, doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt tối thiểu 55 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 30%/năm. Phấn đấu có 60 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường nước ngoài đạt 20 triệu USD/năm. Có 05 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ thị trường nước ngoài đạt tối thiểu 01 tỷ USD/năm. Phấn đấu thực hiện thành công tối thiểu 25 thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A)/liên doanh/hợp tác chiến lược giữa doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam và đối tác quốc tế, với giá trị mỗi thương vụ từ 01 triệu USD trở lên.
Tầm nhìn đến 2045, Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp công nghệ số phát triển, là một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và trên thế giới. Có tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến; thương hiệu Make in Viet Nam trở thành thương hiệu công nghệ số có uy tín được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam không chỉ làm chủ công nghệ và thị trường mà còn định hướng xu hướng phát triển công nghệ số toàn cầu, góp phần xây dựng chuẩn mực, tiêu chuẩn và hệ sinh thái số toàn cầu, thúc đẩy một trật tự kinh tế số quốc tế công bằng, bao trùm và bền vững.
Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp, gồm: rà soát, hoàn thiện thể chế; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường quốc tế theo quy định của pháp luật; tăng cường huy động và hỗ trợ nguồn lực tài chính theo quy định của pháp luật; hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu công nghiệp công nghệ số Make in Viet Nam theo quy định của pháp luật; thúc đẩy hình thành doanh nghiệp công nghệ số chủ lực, dẫn dắt doanh nghiệp nhỏ và vừa vươn ra toàn cầu theo quy định của pháp luật; thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện mua bán, sáp nhập theo quy định của pháp luật.
Nghiên cứu đề xuất bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho các đại diện khoa học và công nghệ của Việt Nam tại nước ngoài theo quy định của pháp luật nhằm phát huy vai trò cầu nối trong việc thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam mở rộng hoạt động ra quốc tế; tăng cường kết nối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại nước sở tại hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, mở rộng hợp tác và nâng cao hiện diện của công nghệ số Việt Nam trên phạm vi toàn cầu.
Đo lường, đánh giá trực tuyến sự phát triển của doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu thông qua hệ thống thông tin, bảo đảm tích hợp, kết nối đồng bộ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam với đối tác, khách hàng, nhà đầu tư và các tổ chức quốc tế, nhằm số hóa toàn bộ quy trình xúc tiến thương mại, tạo điểm tiếp xúc duy nhất cho các bên liên quan, cung cấp thông tin thời gian thực, hỗ trợ kết nối tự động và xây dựng hệ sinh thái số phục vụ chiến lược quốc tế hóa của ngành công nghệ số Việt Nam; theo dõi các chỉ số chính (Dashboard KPI) theo thời gian thực dựa trên dữ liệu để quản lý, đo lường, đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu.
7. Chính sách ưu đãi đối với giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, cán bộ quản lý trong lĩnh vực điện hạt nhân
Ngày 19/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 176/2026/NĐ-CP quy định chính sách ưu đãi đối với giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, cán bộ; cụ thể như sau:  
Chính sách ưu đãi đối với giảng viên trực tiếp giảng dạy các chuyên ngành trong lĩnh vực điện hạt nhân ở Việt Nam: Được ưu tiên xét duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp có sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực điện hạt nhân; được nhận hỗ trợ kinh phí bằng 40 lần mức lương cơ sở cho giảng viên là tác giả đứng đầu hoặc tác giả liên hệ duy nhất đối với một bài báo khoa học thuộc các chuyên ngành điện hạt nhân được công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ, không bao gồm chế độ hỗ trợ công bố khoa học của cơ sở đào tạo; được ưu tiên chọn cử tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn về các chuyên ngành điện hạt nhân ở trong nước và nước ngoài; chi phí thực tập, bồi dưỡng do ngân sách nhà nước bảo đảm; giảng viên được giữ nguyên lương và các chế độ của giảng viên trong thời gian tham gia các khóa thực tập, bồi dưỡng ngắn hạn. 
Mức ưu đãi đối với sinh viên trình độ cao đẳng và đại học, học viên cao học trình độ thạc sĩ và nghiên cứu sinh trình độ tiến sĩ các chuyên ngành trong lĩnh vực điện hạt nhân ở trong nước: Ưu đãi đối với sinh viên học trình độ cao đẳng và đại học có cam kết về nhà máy điện hạt nhân làm việc sau khi tốt nghiệp: được miễn học phí; được ở ký túc xá miễn phí; được cấp sinh hoạt phí hàng tháng bằng 2,0 lần mức lương cơ sở. Mỗi năm cấp sinh hoạt phí theo số tháng thực tế học tập tại trường theo quy định, nhưng một năm học không quá 10 tháng; được cấp học bổng khuyến khích bằng 1,5 lần mức lương cơ sở cho sinh viên xếp loại học lực khá; 2,0 lần mức lương cơ sở cho sinh viên xếp loại học lực giỏi; 2,5 lần mức lương cơ sở cho sinh viên xếp loại học lực xuất sắc. Việc xét cấp học bổng được tiến hành theo học kỳ của năm học, một năm học xét 2 lần; được cung cấp miễn phí giáo trình đào tạo chuyên ngành điện hạt nhân; được ưu tiên cử đi thực tập ngắn hạn trong nước và nước ngoài nếu sinh viên trong năm cuối của chương trình đào tạo đạt học lực giỏi trở lên; được tiếp nhận làm việc tại nhà máy điện hạt nhân sau khi tốt nghiệp theo cam kết.
Ưu đãi đối với học viên cao học trình độ thạc sĩ và nghiên cứu sinh trình độ tiến sĩ: Được miễn học phí; được ở ký túc xá miễn phí; được cấp sinh hoạt phí hàng tháng bằng 3,5 lần mức lương cơ sở cho học viên cao học và 5,0 lần mức lương cơ sở cho nghiên cứu sinh; mỗi năm cấp sinh hoạt phí 12 tháng; được hỗ trợ kinh phí bằng 35 lần mức lương cơ sở nếu là tác giả đứng đầu hoặc tác giả liên hệ duy nhất của một bài báo khoa học thuộc các chuyên ngành điện hạt nhân theo nội dung của luận văn, luận án được chấp nhận đăng trên tạp chí quốc tế có uy tín theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ; được cung cấp miễn phí giáo trình, sách chuyên khảo chuyên ngành điện hạt nhân; được xem xét cử tham dự hội nghị, hội thảo khoa học trong lĩnh vực điện hạt nhân ở trong nước và nước ngoài; kinh phí tham dự hội nghị, hội thảo do ngân sách nhà nước bảo đảm; được ưu tiên chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ cơ sở có nội dung theo đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ; được ưu tiên cử đi thực tập ngắn hạn trong nước và nước ngoài trong năm cuối của chương trình đào tạo; chi phí thực tập do ngân sách nhà nước bảo đảm; được giữ nguyên tiền lương và các chế độ hiện hành đối với học viên cao học và nghiên cứu sinh là công chức, viên chức được cơ quan quản lý cử đi học; được ưu tiên tuyển chọn vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, nhà máy điện hạt nhân.
Mức ưu đãi đối với sinh viên đại học, học viên cao học và nghiên cứu sinh các chuyên ngành trong lĩnh vực điện hạt nhân ở nước ngoài: Ưu đãi đối với sinh viên đại học có cam kết về nhà máy điện hạt nhân làm việc sau khi tốt nghiệp: được cấp 02 vé máy bay khứ hồi hạng phổ thông trong quá trình học để đi và về Việt Nam; được cấp lệ phí hộ chiếu, lệ phí visa, lệ phí sân bay, chi phí phương tiện đi lại từ sân bay đến nơi đào tạo và ngược lại cho lượt đi và về Việt Nam; được mua bảo hiểm y tế mức tối thiểu do nước sở tại quy định áp dụng chung cho công dân nước ngoài đến học tập; được cấp sinh hoạt phí hàng tháng bằng 1,5 lần mức sinh hoạt phí cao nhất hiện đang cấp cho sinh viên Việt Nam đi học ở nước ngoài theo các Đề án đào tạo của Chính phủ Việt Nam; được chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân hỗ trợ chi phí sinh hoạt hàng tháng theo quyết định của chủ đầu tư tối thiểu 300 USD/người; được tiếp nhận làm việc tại nhà máy điện hạt nhân sau khi tốt nghiệp theo cam kết.
Ưu đãi đối với học viên cao học và nghiên cứu sinh có cam kết về các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân làm việc sau khi tốt nghiệp: Được cấp 2 vé máy bay khứ hồi hạng phổ thông trong quá trình học để đi và về Việt Nam; được cấp lệ phí hộ chiếu, lệ phí visa, lệ phí sân bay, chi phí phương tiện đi lại từ sân bay đến nơi đào tạo và ngược lại cho lượt đi và về Việt Nam; được mua bảo hiểm y tế mức tối thiểu do nước sở tại quy định áp dụng chung cho công dân nước ngoài đến học tập; được cấp sinh hoạt phí hàng tháng bằng 2,0 lần mức sinh hoạt phí cao nhất hiện đang cấp cho học viên cao học và nghiên cứu sinh Việt Nam đi học ở nước ngoài theo các Đề án đào tạo của Chính phủ Việt Nam; được giữ nguyên lương và các khoản phụ cấp khi đi học tập ở nước ngoài đối với học viên cao học và nghiên cứu sinh là công chức, viên chức.
Mức ưu đãi đối với sinh viên học trình độ đại học ở trong nước các chuyên ngành có liên quan đến vận hành nhà máy điện hạt nhân có cam kết về nhà máy điện hạt nhân làm việc sau khi tốt nghiệp: Được miễn học phí; được ưu tiên ở ký túc xá; được cấp sinh hoạt phí hàng tháng bằng 2,0 lần mức lương cơ sở; mỗi năm cấp sinh hoạt phí theo số tháng thực tế học tập tại trường theo quy định, nhưng một năm học không quá 10 tháng; được cấp học bổng khuyến khích bằng 0,75 lần mức lương cơ sở cho sinh viên xếp loại học lực khá; 1,0 lần mức lương cơ sở cho sinh viên xếp loại học lực giỏi; 1,25 lần mức lương cơ sở cho sinh viên xếp loại học lực xuất sắc; việc xét cấp học bổng được tiến hành theo học kỳ của năm học, một năm học xét 2 lần; được tiếp nhận làm việc tại nhà máy điện hạt nhân sau khi tốt nghiệp theo cam kết.
Người được hưởng ưu đãi theo Nghị định này có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo cam kết với chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân trước khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng và nghĩa vụ đối với cơ quan quản lý trực tiếp, cơ quan cử đi đào tạo, bồi dưỡng (nếu có). Trong trường hợp người được hưởng ưu đãi theo Nghị định này không thực hiện theo đúng cam kết thì phải đền bù chi phí đào tạo, bồi hoàn kinh phí đã được chi trả, tài trợ theo quy định hiện hành. Chi phí đền bù, kinh phí bồi hoàn của người được hưởng ưu đãi nộp về cơ quan quản lý trực tiếp (nếu có) hoặc cơ quan cử đi học đối với khoản kinh phí đã chi trả từ ngân sách nhà nước; nộp về chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân đối với khoản kinh phí đã chi trả, tài trợ của chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân.
8. Quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tiếp công dân
Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 154/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tiếp công dân. Trong đó, Nghị định quy định trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và quản lý, theo dõi việc tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị như sau:
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải trực tiếp tiếp công dân để lắng nghe, xem xét, giải quyết và chỉ đạo việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền của mình hoặc thuộc thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan, đơn vị cấp dưới trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân định kỳ hoặc đột xuất theo quy định của Luật Tiếp công dân và kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị cấp dưới trong công tác tiếp công dân; đôn đốc việc xử lý sau tiếp công dân của các cơ quan, đơn vị.
Việc tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải được ghi vào Sổ tiếp công dân. Kết thúc việc tiếp công dân, ý kiến chỉ đạo của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân phải được lập thành văn bản (thông báo kết luận việc tiếp công dân) và gửi cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan để tổ chức thực hiện theo đúng yêu cầu, nội dung chỉ đạo; xác định thời gian giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật và cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm giải quyết phải gửi kết quả giải quyết cho công dân. Khi tiếp công dân, nếu vụ việc rõ ràng, cụ thể, có cơ sở và thuộc thẩm quyền giải quyết thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải trả lời ngay cho công dân biết; nếu vụ việc phức tạp cần nghiên cứu, xem xét thì nói rõ thời hạn giải quyết và người cần liên hệ để biết kết quả giải quyết.
Ban tiếp công dân, đơn vị hoặc công chức, viên chức được giao nhiệm vụ giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong hoạt động tiếp công dân có trách nhiệm: Sắp xếp việc tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và thông báo cho cơ quan, đơn vị có liên quan biết; ưu tiên những vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đông người, phức tạp, kéo dài; cử người ghi chép nội dung việc tiếp công dân; nội dung ghi chép phải trung thực, đầy đủ, rõ ràng; chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác để người đứng đầu cơ quan, đơn vị thực hiện việc tiếp công dân.
 Cơ quan, đơn vị có liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có trách nhiệm cử đại diện lãnh đạo cơ quan, đơn vị cùng tiếp công dân để thực hiện những yêu cầu do người đứng đầu cơ quan, đơn vị giao; cử công chức, viên chức để ghi chép nội dung việc tiếp công dân, nhận các thông tin, tài liệu do công dân cung cấp; chuẩn bị đầy đủ những thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh mà người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ tiếp công dân.
Kết thúc việc tiếp công dân, các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm giúp người đứng đầu cơ quan, đơn vị chuẩn bị văn bản trả lời công dân nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết; văn bản chuyển đơn đến cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết hoặc dự thảo thông báo kết luận việc tiếp công dân. Trường hợp vụ việc liên quan đến trách nhiệm của nhiều cấp, nhiều ngành thì cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền nghiên cứu, phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân của vụ việc để đề xuất các biện pháp giải quyết, đồng thời chuẩn bị văn bản để người đứng đầu cơ quan, đơn vị trả lời công dân.
Việc tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh phải được ghi vào Sổ tiếp công dân (bản giấy hoặc bản điện tử) và được cập nhật đầy đủ, kịp thời vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật. Thông tin, dữ liệu về tiếp công dân phải được quản lý thống nhất, bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời; phục vụ công tác theo dõi, chỉ đạo, điều hành, thanh tra, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tổ chức cập nhật, khai thác, sử dụng dữ liệu về tiếp công dân trong phạm vi quản lý; theo dõi, tổng hợp, phân tích tình hình tiếp công dân, xử lý đơn; kịp thời phát hiện vụ việc đông người, phức tạp để báo cáo, xử lý theo thẩm quyền; kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin có liên quan theo quy định của pháp luật. 
 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức theo dõi, quản lý việc tiếp công dân; kiểm tra, đôn đốc việc cập nhật, quản lý, sử dụng dữ liệu; chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra tình trạng không cập nhật, cập nhật không đầy đủ, không chính xác hoặc không khai thác, sử dụng hiệu quả dữ liệu.
9. Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 
Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 được phê duyệt bởi Quyết định số 777/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 nêu rõ các mục tiêu chung là nhằm hỗ trợ cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông công ích, thiết bị đầu cuối góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ chuyển đổi số quốc gia và đảm bảo quốc phòng, an ninh. 
Các mục tiêu cụ thể, gồm: Về hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích, phấn đấu 100% địa bàn sau đây được hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất và dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất: Thôn đã có điện thuộc xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thôn đặc biệt khó khăn đã có điện thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn lại; thôn đã có điện thuộc xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; nhà giàn trên biển. Về hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông bắt buộc: 100% đối tượng sử dụng theo quy định được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông bắt buộc. Về hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông phổ cập: Phấn đấu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo trên phạm vi cả nước có nhu cầu được hỗ trợ sử dụng dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất hoặc dịch vụ viễn thông di động mặt đất. 
Phấn đấu 100% các đối tượng chính sách đặc biệt sau đây có nhu cầu được hỗ trợ sử dụng dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất: Cơ sở giáo dục mầm non; cơ sở giáo dục phổ thông (bao gồm cả điểm trường); trạm y tế xã (bao gồm cả điểm y tế/điểm trạm y tế xã); điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo. 
Phấn đấu 100% điểm cộng đồng tại địa bàn sau đây chưa được cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất và dịch vụ Internet băng rộng cố định mặt đất được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh tầm thấp: Thôn thuộc xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn lại; thôn thuộc xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo. 100% ngư dân trên tàu, thuyền Việt Nam đánh bắt trên biển có nhu cầu được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông di động hàng hải. Về hỗ trợ thiết bị đầu cuối: 400.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ trang bị điện thoại thông minh. 
Danh mục dịch vụ viễn thông công ích: Dịch vụ viễn thông bắt buộc (gồm Dịch vụ viễn thông khẩn cấp; dịch vụ viễn thông liên lạc đến Tổng đài 112. Dịch vụ viễn thông phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, bao gồm: dịch vụ thoại; dịch vụ truyền số liệu qua vệ tinh; dịch vụ nhắn tin trên mạng viễn thông di động mặt đất). Dịch vụ viễn thông di động hàng hải (qua hệ thống đài thông tin duyên hải) phục vụ các sự kiện tìm kiếm, cứu nạn trên biển. Dịch vụ viễn thông phổ cập (gồm Dịch vụ viễn thông trên mạng viễn thông cố định mặt đất: Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng). Dịch vụ viễn thông trên mạng viễn thông di động mặt đất (gồm Dịch vụ thoại. Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng). Dịch vụ nhắn tin. Dịch vụ viễn thông trên mạng viễn thông cố định vệ tinh tầm thấp. Dịch vụ viễn thông di động hàng hải (dịch vụ thoại) phục vụ liên lạc cho ngư dân trên tàu, thuyền Việt Nam đánh bắt trên biển.
Thời gian thực hiện chương trình được tính từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2030. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì, hướng dẫn, triển khai thực hiện chương trình, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện chương trình; hướng dẫn việc thực hiện yêu cầu về phổ cập dịch vụ viễn thông đối với từng loại hình dịch vụ viễn thông; ban hành thiết kế tiêu chuẩn công trình viễn thông để đáp ứng cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập; ban hành tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ viễn thông công ích; ban hành giá dịch vụ viễn thông công ích, mức hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích; ban hành về yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và mức hỗ trợ thiết bị đầu cuối;
Tổ chức xây dựng, phê duyệt kế hoạch, dự toán, quyết toán thực hiện chương trình; ban hành kế hoạch thu đóng góp tài chính của các doanh nghiệp viễn thông cho Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam và phê duyệt quyết toán kinh phí thu đóng góp của chương trình; gửi quyết định cho Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan liên quan, địa phương tổ chức, quản lý, kiểm tra, giám sát, tuyên truyền thực hiện hoạt động viễn thông công ích; tổng kết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện chương trình sau khi kết thúc chương trình; chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo, kiến nghị tại Tờ trình số 53/TTr-BKHCN ngày 31/3/2026 về đề nghị ban hành quyết định phê duyệt Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 và văn bản số 2716/BKHCN-VTF ngày 29/4/2026 về việc hoàn thiện hồ sơ dự thảo quyết định phê duyệt Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, triển khai, giám sát, kiểm tra thực hiện chương trình. Trong đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc hướng dẫn các địa phương cung cấp số liệu liên quan đến hoạt động viễn thông công ích thuộc lĩnh vực quản lý theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức rà soát, đề xuất khu vực khó khăn được hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích tại địa phương theo quy định và hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ; tổ chức quản lý, lập và phê duyệt danh sách đối tượng đủ điều kiện được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích, được hỗ trợ thiết bị đầu cuối theo quy định và hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ; chủ trì, phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát, tuyên truyền thực hiện hoạt động viễn thông công ích trên địa bàn theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ; bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương cho nhiệm vụ quản lý thực hiện chương trình tại địa phương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; chỉ đạo các cơ quan nhà nước tại địa phương phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông trong việc thực hiện chi hỗ trợ thiết bị đầu cuối.
Các doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm thực hiện đóng góp tài chính vào Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam theo kế hoạch của Bộ Khoa học và Công nghệ; cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đúng đối tượng với chất lượng, giá cước dịch vụ theo quy định; thực hiện và báo cáo đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, số liệu thực hiện chương trình. 
Đối tượng được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích, hỗ trợ thiết bị đầu cuối có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết cho các cơ quan nhà nước liên quan và cho doanh nghiệp viễn thông khi đề nghị được hỗ trợ theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ. 
Các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, doanh nghiệp viễn thông, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm triển khai thực hiện chương trình bảo đảm kinh phí hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, đúng quy định, không để thất thoát, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. 
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

Tác giả: Tuong Mai Van

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây