Tỉnh An Giang xác lập mô hình tăng trưởng mới hướng đến mục tiêu sớm trở thành tỉnh khá của vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Thứ hai - 29/06/2026 22:21
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Bước vào giai đoạn phát triển mới, tỉnh An Giang đứng trước thời cơ lớn để bứt phá, vươn lên phấn đấu trở thành tỉnh khá vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Phát huy những thành quả đạt được giai đoạn 2021 - 2025, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang xác lập mô hình tăng trưởng mới, phát huy lợi thế “biên giới - sông - biển - đảo” hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.
Đồng chí Nguyễn Tiến Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, sát thực địa khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại 2 xã Kiên Lương và Sơn Hải. Ảnh: AGO
Thực tiễn phát triển và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng
Thứ nhất, cần vượt qua giới hạn của mô hình tăng trưởng hiện tại
Giai đoạn 2021 - 2025, kinh tế tỉnh An Giang duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 5,59%/năm; quy mô kinh tế tiếp tục mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Riêng năm 2025, GRDP của tỉnh tăng 8,39%, đứng đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long và xếp thứ 14/34 tỉnh, thành phố cả nước. Tổng thu ngân sách đạt hơn 25.713 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 89.048 tỷ đồng, tăng hơn 35% so với cùng kỳ; toàn tỉnh có hơn 4.000 doanh nghiệp thành lập mới và 32 dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương với tổng vốn đăng ký hơn 13.000 tỷ đồng. Những kết quả đó tiếp tục củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh và tiềm năng phát triển của tỉnh.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn dựa nhiều vào các động lực truyền thống, nhất là nông nghiệp và khai thác lợi thế tự nhiên. Tỷ trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn tại tỉnh hiện vẫn ở mức khiêm tốn; năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng tham gia sâu vào các chuỗi giá trị còn hạn chế, làm cho nền kinh tế dễ bị tác động bởi biến động của thị trường, biến đổi khí hậu và các yếu tố bên ngoài. Nếu không sớm chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tỉnh An Giang sẽ khó hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Quán triệt tinh thần Đại hội XIV của Đảng (năm 2026): “tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của phát triển”, tỉnh định hướng chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Trọng tâm là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, gia tăng đóng góp của năng suất tổng hợp (TFP), phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao và hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh. Đây là điều kiện để tỉnh An Giang xác lập động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Thứ hai, tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược
Hiện nay, tình hình quốc tế và khu vực đang tiếp tục có những biến động phức tạp, khó dự báo như căng thẳng địa chính trị, chính sách các nước lớn thay đổi và vấn đề chuyển đổi số, chuyển dịch chuỗi cung ứng, yêu cầu phát triển xanh - bền vững… đòi hỏi các quốc gia phải chủ động đổi mới tư duy phát triển, nâng cao năng lực thích ứng, xây dựng chiến lược phát triển linh hoạt, hiệu quả. Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)… đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư, tiếp cận công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với tỉnh An Giang, quá trình hội nhập và hợp tác khu vực mang lại cơ hội lớn để phát huy vai trò là trung tâm quan trọng về nông nghiệp hàng hóa, thủy sản, kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu và du lịch tổng hợp của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vị trí vừa là tỉnh biên giới giáp Cam-pu-chia, vừa có bờ biển và hệ thống đảo trên Vịnh Thái Lan, giúp tỉnh An Giang có điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường tiêu thụ lúa gạo, thủy sản, nông sản chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá, thương mại biên giới và du lịch biển - đảo - sông nước; tăng cường tham gia vào mạng lưới logistics và chuỗi cung ứng khu vực Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS). Tuy nhiên, cùng với cơ hội là sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt và yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh và lao động bền vững; nếu không nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng dịch vụ và năng lực quản trị chuỗi giá trị, tỉnh có thể đối mặt nguy cơ suy giảm lợi thế cạnh tranh và thu hẹp thị phần tại các thị trường khó tính như EU, Mỹ và Nhật Bản.
Thứ ba, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Đổi mới mô hình tăng trưởng xét đến cùng là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của người dân. Trên tinh thần đó, An Giang xây dựng mô hình tăng trưởng mới theo hướng bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,75; giải quyết việc làm mới khoảng 40.000 lao động mỗi năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 79%; tỷ lệ thất nghiệp duy trì dưới 3,6%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 8,59 triệu đồng/tháng. Đồng thời, thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; bảo đảm 100% người dân được khám sức khỏe định kỳ; 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và hoàn thành 6.016 căn nhà ở xã hội. Những chỉ tiêu trên thể hiện định hướng nhất quán của tỉnh trong việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội - một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hướng đến tăng trưởng hai con số
Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần bộc lộ những giới hạn, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới trở thành yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển của tỉnh An Giang. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định rõ: “Phát triển tỉnh theo hướng xanh, số và hội nhập sâu, lấy chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển, kinh tế biên mậu và phát triển du lịch làm động lực đổi mới mô hình tăng trưởng của tỉnh” với lộ trình và định hướng cụ thể:
Năm 2026 có ý nghĩa quan trọng đối với tỉnh An Giang. Đây là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ được xác lập tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây cũng là năm đánh dấu sự chuyển biến về tư duy phát triển, phương thức quản trị và mô hình tăng trưởng mới, đặt nền móng cho việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong cả nhiệm kỳ. Tỉnh đặt mục tiêu phấn đấu năm 2026 đạt tốc độ tăng trưởng GRDP từ 10,71% trở lên; GRDP theo giá hiện hành khoảng 335.000 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 90,53 triệu đồng/người/năm.
Đến năm 2030, tỉnh An Giang phấn đấu trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước và là trung tâm kinh tế biển mạnh mang tầm quốc gia; từng bước khẳng định vai trò cực tăng trưởng quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong không gian phát triển mới “biên giới - sông - biển - đảo”. Tỉnh đặt mục tiêu GRDP theo giá hiện hành đạt khoảng 630.370 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 11% trở lên; GRDP bình quân đầu người đạt trên 6.300 USD; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt khoảng 30%; Tiếp tục huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển; Phấn đấu tổng thu ngân sách đến năm 2030 đạt từ 145.000 - 175.000 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 649.007 tỷ đồng; tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn so với GRDP đạt khoảng 24,51%. Quá trình phát triển được định hướng theo hướng hiện đại, đồng bộ và bền vững, với tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%; tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia đạt 99,54%).
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, tỉnh An Giang đã chủ động xây dựng “Đề án nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang hướng tới mục tiêu hai con số giai đoạn 2026 - 2030”, với mô hình tăng trưởng mới theo định hướng “3 trụ cột phát triển - 3 ngành tạo giá trị gia tăng - 5 động lực thúc đẩy tăng trưởng”:
Ba trụ cột phát triển gồm kinh tế biển - đảo, kinh tế biên giới và nông nghiệp sinh thái được xác định là nền tảng. Đây là những lĩnh vực hội tụ các lợi thế nổi trội về vị trí địa kinh tế, tài nguyên và không gian phát triển của tỉnh sau hợp nhất địa giới hành chính, tạo cơ sở để hình thành các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong đó, nông nghiệp sinh thái tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Tỉnh phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 4,7 - 5,0%/năm; tỷ lệ sản phẩm nông, lâm, thủy sản được sản xuất theo các hình thức liên kết đạt trên 50%; tỷ lệ sản phẩm sản xuất theo tiêu chuẩn GAP hoặc tương đương đạt trên 40%, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp.
Ba ngành tạo giá trị gia tăng chủ yếu gồm công nghiệp chế biến, logistics và du lịch. Trong đó, công nghiệp chế biến - chế tạo giữ vai trò trung tâm trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch lao động sang các ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn. Tỉnh tập trung phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu nông - thủy sản quy mô lớn; đẩy mạnh đổi mới công nghệ, tự động hóa và sản xuất thông minh nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đến năm 2030, tỷ trọng GRDP công nghiệp đạt trên 13,2% GRDP; sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân khoảng 13 - 14%/năm. Qua đó, tỉnh An Giang định hướng trở thành trung tâm công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản và logistics quan trọng vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Ba động lực nền tảng gồm đổi mới sáng tạo, thể chế phát triển và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là yếu tố quyết định năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế tỉnh. Trong đó, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ thâm dụng tài nguyên sang dựa trên khoa học - công nghệ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Tỉnh đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%; kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GRDP; trên 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo.
Theo cấu trúc này, tăng trưởng kinh tế của tỉnh không phụ thuộc vào một ngành hay một khu vực riêng lẻ mà được hình thành từ sự tương tác và bổ trợ giữa các trụ cột phát triển, các ngành tạo giá trị gia tăng và các động lực nền tảng. Khi các yếu tố này được phát triển đồng bộ, lợi thế về không gian và tài nguyên của tỉnh sẽ được chuyển hóa thành giá trị kinh tế cao hơn, qua đó tạo ra động lực tăng trưởng mới, bền vững và có khả năng lan tỏa mạnh mẽ trong toàn bộ nền kinh tế.
Để sớm trở thành tỉnh khá của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tiếp tục huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, để đạt tăng trưởng hai con số, từng bước khẳng định vai trò cực tăng trưởng quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long và đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển chung của cả nước trong kỷ nguyên mới, tỉnh An Giang tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp chiến lược, có trọng tâm, trọng điểm:
Thứ nhất, phát triển đồng bộ hạ tầng chiến lược, huy động hiệu quả nguồn lực, nâng cao chất lượng nhân lực và tăng cường liên kết vùng - nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững
Tỉnh An Giang xác định phát triển hạ tầng là khâu đột phá chiến lược, giữ vai trò mở đường cho quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và mở rộng không gian phát triển mới. Trọng tâm là, tập trung đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông, logistics, đô thị, hạ tầng số và năng lượng theo hướng hiện đại, thông minh, bảo đảm kết nối hiệu quả giữa không gian “biên giới - đồng bằng - ven biển - hải đảo”. Ưu tiên các tuyến giao thông động lực, hệ thống cảng biển, cảng sông, trung tâm logistics và hạ tầng phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc nhằm nâng cao năng lực liên kết vùng, thúc đẩy phát triển thương mại, du lịch, công nghiệp chế biến và kinh tế biển.
Tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội, nhất là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và hợp tác công tư (PPP); ưu tiên các công trình có tính lan tỏa cao, khả năng kích hoạt tăng trưởng và tạo dư địa phát triển dài hạn. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và chuỗi giá trị; ưu tiên các lĩnh vực có lợi thế như nông nghiệp công nghệ cao, logistics, chế biến, thương mại biên giới, du lịch biển đảo và chuyển đổi số. Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và quốc tế.
Thứ hai, phát triển các ngành kinh tế chủ lực gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Tập trung phát triển nông nghiệp hiện đại, sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao; hình thành các vùng nguyên liệu lớn gắn với công nghiệp chế biến, logistics và thị trường tiêu thụ. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và tự động hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Công nghiệp chế biến, chế tạo được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, chế biến sâu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và quốc tế; ưu tiên các dự án công nghệ cao trong chế biến nông - thủy sản, công nghiệp sinh học và công nghiệp phụ trợ. Công nghiệp chế biến phải thực sự trở thành động lực nâng cao giá trị cho sản phẩm nông nghiệp và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Đối với du lịch, dịch vụ, kinh tế biển và kinh tế biên giới, tỉnh chuyển mạnh từ khai thác tiềm năng sang kiến tạo giá trị; phát triển du lịch biển đảo, sinh thái, văn hóa chất lượng cao; thúc đẩy logistics biển, dịch vụ cảng, nuôi biển công nghệ cao, thương mại số và hệ sinh thái dịch vụ cửa khẩu hiện đại. Đồng thời, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực xuyên suốt; đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Thứ ba, nâng cao hiệu lực quản trị và cải thiện môi trường phát triển - xây dựng chính quyền kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp
Tập trung xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu quả; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng chính quyền số. Trọng tâm là, rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường; nâng cao hiệu quả cơ chế một cửa, giảm thời gian xử lý hồ sơ và chi phí cho doanh nghiệp.
Đổi mới phương thức điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và dựa trên hiệu quả thực hiện; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành và địa phương trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và triển khai các dự án trọng điểm. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao các chỉ số: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); cải cách hành chính (PAR INDEX); hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI); hài lòng của người dân và tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) nhằm xây dựng hình ảnh tỉnh An Giang là địa phương năng động, thân thiện và hấp dẫn đối với nhà đầu tư.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả điều hành, giám sát thực thi và bảo đảm thực hiện mục tiêu tăng trưởng
Tỉnh xây dựng cơ chế điều hành tăng trưởng thống nhất, thông suốt từ cấp tỉnh đến cơ sở; phân công rõ trách nhiệm, rõ đầu mối, rõ tiến độ; tăng cường giao ban định kỳ để kịp thời tháo gỡ khó khăn và điều chỉnh giải pháp phù hợp thực tiễn. Đồng thời, xây dựng hệ thống giám sát tăng trưởng dựa trên dữ liệu số nhằm theo dõi chặt chẽ các chỉ tiêu GRDP, giải ngân đầu tư công, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, xuất khẩu, du lịch và các dự án quan trọng.
Gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; thiết lập cơ chế phản hồi chính sách linh hoạt và tăng cường công khai, minh bạch trong điều hành. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị, củng cố niềm tin xã hội và tạo động lực thúc đẩy bộ máy thực thi hành động quyết liệt, hiệu quả hơn trong hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của tỉnh An Giang trong giai đoạn tới.
Nguyễn Tiến Hải
Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang
Thứ nhất, cần vượt qua giới hạn của mô hình tăng trưởng hiện tại
Giai đoạn 2021 - 2025, kinh tế tỉnh An Giang duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 5,59%/năm; quy mô kinh tế tiếp tục mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Riêng năm 2025, GRDP của tỉnh tăng 8,39%, đứng đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long và xếp thứ 14/34 tỉnh, thành phố cả nước. Tổng thu ngân sách đạt hơn 25.713 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 89.048 tỷ đồng, tăng hơn 35% so với cùng kỳ; toàn tỉnh có hơn 4.000 doanh nghiệp thành lập mới và 32 dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương với tổng vốn đăng ký hơn 13.000 tỷ đồng. Những kết quả đó tiếp tục củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh và tiềm năng phát triển của tỉnh.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn dựa nhiều vào các động lực truyền thống, nhất là nông nghiệp và khai thác lợi thế tự nhiên. Tỷ trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn tại tỉnh hiện vẫn ở mức khiêm tốn; năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng tham gia sâu vào các chuỗi giá trị còn hạn chế, làm cho nền kinh tế dễ bị tác động bởi biến động của thị trường, biến đổi khí hậu và các yếu tố bên ngoài. Nếu không sớm chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tỉnh An Giang sẽ khó hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Quán triệt tinh thần Đại hội XIV của Đảng (năm 2026): “tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của phát triển”, tỉnh định hướng chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Trọng tâm là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, gia tăng đóng góp của năng suất tổng hợp (TFP), phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao và hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh. Đây là điều kiện để tỉnh An Giang xác lập động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Thứ hai, tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược
Hiện nay, tình hình quốc tế và khu vực đang tiếp tục có những biến động phức tạp, khó dự báo như căng thẳng địa chính trị, chính sách các nước lớn thay đổi và vấn đề chuyển đổi số, chuyển dịch chuỗi cung ứng, yêu cầu phát triển xanh - bền vững… đòi hỏi các quốc gia phải chủ động đổi mới tư duy phát triển, nâng cao năng lực thích ứng, xây dựng chiến lược phát triển linh hoạt, hiệu quả. Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)… đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư, tiếp cận công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với tỉnh An Giang, quá trình hội nhập và hợp tác khu vực mang lại cơ hội lớn để phát huy vai trò là trung tâm quan trọng về nông nghiệp hàng hóa, thủy sản, kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu và du lịch tổng hợp của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vị trí vừa là tỉnh biên giới giáp Cam-pu-chia, vừa có bờ biển và hệ thống đảo trên Vịnh Thái Lan, giúp tỉnh An Giang có điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường tiêu thụ lúa gạo, thủy sản, nông sản chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá, thương mại biên giới và du lịch biển - đảo - sông nước; tăng cường tham gia vào mạng lưới logistics và chuỗi cung ứng khu vực Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS). Tuy nhiên, cùng với cơ hội là sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt và yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh và lao động bền vững; nếu không nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng dịch vụ và năng lực quản trị chuỗi giá trị, tỉnh có thể đối mặt nguy cơ suy giảm lợi thế cạnh tranh và thu hẹp thị phần tại các thị trường khó tính như EU, Mỹ và Nhật Bản.
Thứ ba, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Đổi mới mô hình tăng trưởng xét đến cùng là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của người dân. Trên tinh thần đó, An Giang xây dựng mô hình tăng trưởng mới theo hướng bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,75; giải quyết việc làm mới khoảng 40.000 lao động mỗi năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 79%; tỷ lệ thất nghiệp duy trì dưới 3,6%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 8,59 triệu đồng/tháng. Đồng thời, thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; bảo đảm 100% người dân được khám sức khỏe định kỳ; 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và hoàn thành 6.016 căn nhà ở xã hội. Những chỉ tiêu trên thể hiện định hướng nhất quán của tỉnh trong việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội - một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hướng đến tăng trưởng hai con số
Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần bộc lộ những giới hạn, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới trở thành yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển của tỉnh An Giang. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định rõ: “Phát triển tỉnh theo hướng xanh, số và hội nhập sâu, lấy chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển, kinh tế biên mậu và phát triển du lịch làm động lực đổi mới mô hình tăng trưởng của tỉnh” với lộ trình và định hướng cụ thể:
Năm 2026 có ý nghĩa quan trọng đối với tỉnh An Giang. Đây là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ được xác lập tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây cũng là năm đánh dấu sự chuyển biến về tư duy phát triển, phương thức quản trị và mô hình tăng trưởng mới, đặt nền móng cho việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong cả nhiệm kỳ. Tỉnh đặt mục tiêu phấn đấu năm 2026 đạt tốc độ tăng trưởng GRDP từ 10,71% trở lên; GRDP theo giá hiện hành khoảng 335.000 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 90,53 triệu đồng/người/năm.
Đến năm 2030, tỉnh An Giang phấn đấu trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước và là trung tâm kinh tế biển mạnh mang tầm quốc gia; từng bước khẳng định vai trò cực tăng trưởng quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong không gian phát triển mới “biên giới - sông - biển - đảo”. Tỉnh đặt mục tiêu GRDP theo giá hiện hành đạt khoảng 630.370 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 11% trở lên; GRDP bình quân đầu người đạt trên 6.300 USD; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt khoảng 30%; Tiếp tục huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển; Phấn đấu tổng thu ngân sách đến năm 2030 đạt từ 145.000 - 175.000 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 649.007 tỷ đồng; tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn so với GRDP đạt khoảng 24,51%. Quá trình phát triển được định hướng theo hướng hiện đại, đồng bộ và bền vững, với tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%; tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia đạt 99,54%).
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, tỉnh An Giang đã chủ động xây dựng “Đề án nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang hướng tới mục tiêu hai con số giai đoạn 2026 - 2030”, với mô hình tăng trưởng mới theo định hướng “3 trụ cột phát triển - 3 ngành tạo giá trị gia tăng - 5 động lực thúc đẩy tăng trưởng”:
Ba trụ cột phát triển gồm kinh tế biển - đảo, kinh tế biên giới và nông nghiệp sinh thái được xác định là nền tảng. Đây là những lĩnh vực hội tụ các lợi thế nổi trội về vị trí địa kinh tế, tài nguyên và không gian phát triển của tỉnh sau hợp nhất địa giới hành chính, tạo cơ sở để hình thành các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong đó, nông nghiệp sinh thái tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Tỉnh phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 4,7 - 5,0%/năm; tỷ lệ sản phẩm nông, lâm, thủy sản được sản xuất theo các hình thức liên kết đạt trên 50%; tỷ lệ sản phẩm sản xuất theo tiêu chuẩn GAP hoặc tương đương đạt trên 40%, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp.
Ba ngành tạo giá trị gia tăng chủ yếu gồm công nghiệp chế biến, logistics và du lịch. Trong đó, công nghiệp chế biến - chế tạo giữ vai trò trung tâm trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch lao động sang các ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn. Tỉnh tập trung phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu nông - thủy sản quy mô lớn; đẩy mạnh đổi mới công nghệ, tự động hóa và sản xuất thông minh nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đến năm 2030, tỷ trọng GRDP công nghiệp đạt trên 13,2% GRDP; sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân khoảng 13 - 14%/năm. Qua đó, tỉnh An Giang định hướng trở thành trung tâm công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản và logistics quan trọng vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Ba động lực nền tảng gồm đổi mới sáng tạo, thể chế phát triển và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là yếu tố quyết định năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế tỉnh. Trong đó, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ thâm dụng tài nguyên sang dựa trên khoa học - công nghệ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Tỉnh đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%; kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GRDP; trên 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo.
Theo cấu trúc này, tăng trưởng kinh tế của tỉnh không phụ thuộc vào một ngành hay một khu vực riêng lẻ mà được hình thành từ sự tương tác và bổ trợ giữa các trụ cột phát triển, các ngành tạo giá trị gia tăng và các động lực nền tảng. Khi các yếu tố này được phát triển đồng bộ, lợi thế về không gian và tài nguyên của tỉnh sẽ được chuyển hóa thành giá trị kinh tế cao hơn, qua đó tạo ra động lực tăng trưởng mới, bền vững và có khả năng lan tỏa mạnh mẽ trong toàn bộ nền kinh tế.
Để sớm trở thành tỉnh khá của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tiếp tục huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, để đạt tăng trưởng hai con số, từng bước khẳng định vai trò cực tăng trưởng quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long và đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển chung của cả nước trong kỷ nguyên mới, tỉnh An Giang tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp chiến lược, có trọng tâm, trọng điểm:
Thứ nhất, phát triển đồng bộ hạ tầng chiến lược, huy động hiệu quả nguồn lực, nâng cao chất lượng nhân lực và tăng cường liên kết vùng - nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững
Tỉnh An Giang xác định phát triển hạ tầng là khâu đột phá chiến lược, giữ vai trò mở đường cho quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và mở rộng không gian phát triển mới. Trọng tâm là, tập trung đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông, logistics, đô thị, hạ tầng số và năng lượng theo hướng hiện đại, thông minh, bảo đảm kết nối hiệu quả giữa không gian “biên giới - đồng bằng - ven biển - hải đảo”. Ưu tiên các tuyến giao thông động lực, hệ thống cảng biển, cảng sông, trung tâm logistics và hạ tầng phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc nhằm nâng cao năng lực liên kết vùng, thúc đẩy phát triển thương mại, du lịch, công nghiệp chế biến và kinh tế biển.
Tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội, nhất là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và hợp tác công tư (PPP); ưu tiên các công trình có tính lan tỏa cao, khả năng kích hoạt tăng trưởng và tạo dư địa phát triển dài hạn. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và chuỗi giá trị; ưu tiên các lĩnh vực có lợi thế như nông nghiệp công nghệ cao, logistics, chế biến, thương mại biên giới, du lịch biển đảo và chuyển đổi số. Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và quốc tế.
Thứ hai, phát triển các ngành kinh tế chủ lực gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Tập trung phát triển nông nghiệp hiện đại, sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao; hình thành các vùng nguyên liệu lớn gắn với công nghiệp chế biến, logistics và thị trường tiêu thụ. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và tự động hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Công nghiệp chế biến, chế tạo được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, chế biến sâu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và quốc tế; ưu tiên các dự án công nghệ cao trong chế biến nông - thủy sản, công nghiệp sinh học và công nghiệp phụ trợ. Công nghiệp chế biến phải thực sự trở thành động lực nâng cao giá trị cho sản phẩm nông nghiệp và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Đối với du lịch, dịch vụ, kinh tế biển và kinh tế biên giới, tỉnh chuyển mạnh từ khai thác tiềm năng sang kiến tạo giá trị; phát triển du lịch biển đảo, sinh thái, văn hóa chất lượng cao; thúc đẩy logistics biển, dịch vụ cảng, nuôi biển công nghệ cao, thương mại số và hệ sinh thái dịch vụ cửa khẩu hiện đại. Đồng thời, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực xuyên suốt; đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Thứ ba, nâng cao hiệu lực quản trị và cải thiện môi trường phát triển - xây dựng chính quyền kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp
Tập trung xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu quả; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng chính quyền số. Trọng tâm là, rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường; nâng cao hiệu quả cơ chế một cửa, giảm thời gian xử lý hồ sơ và chi phí cho doanh nghiệp.
Đổi mới phương thức điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và dựa trên hiệu quả thực hiện; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành và địa phương trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và triển khai các dự án trọng điểm. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao các chỉ số: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); cải cách hành chính (PAR INDEX); hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI); hài lòng của người dân và tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) nhằm xây dựng hình ảnh tỉnh An Giang là địa phương năng động, thân thiện và hấp dẫn đối với nhà đầu tư.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả điều hành, giám sát thực thi và bảo đảm thực hiện mục tiêu tăng trưởng
Tỉnh xây dựng cơ chế điều hành tăng trưởng thống nhất, thông suốt từ cấp tỉnh đến cơ sở; phân công rõ trách nhiệm, rõ đầu mối, rõ tiến độ; tăng cường giao ban định kỳ để kịp thời tháo gỡ khó khăn và điều chỉnh giải pháp phù hợp thực tiễn. Đồng thời, xây dựng hệ thống giám sát tăng trưởng dựa trên dữ liệu số nhằm theo dõi chặt chẽ các chỉ tiêu GRDP, giải ngân đầu tư công, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, xuất khẩu, du lịch và các dự án quan trọng.
Gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; thiết lập cơ chế phản hồi chính sách linh hoạt và tăng cường công khai, minh bạch trong điều hành. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị, củng cố niềm tin xã hội và tạo động lực thúc đẩy bộ máy thực thi hành động quyết liệt, hiệu quả hơn trong hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của tỉnh An Giang trong giai đoạn tới.
Nguyễn Tiến Hải
Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang