Sự thật lịch sử không thể phủ nhận!
- Thứ ba - 31/03/2026 15:45
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Ngày 30/4/1975 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi - Ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất và phát triển.
Sau hơn 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển hùng cường. Ảnh: TL
Tuy nhiên, mỗi dịp kỷ niệm sự kiện trọng đại này, trên một số diễn đàn mạng xã hội và phương tiện truyền thông ở nước ngoài, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lại tiếp tục tung ra những luận điệu cũ rích, nhằm xuyên tạc, bóp méo bản chất chiến thắng lịch sử của dân tộc. Chúng gọi đây là “ngày quốc hận”, “ngày mất nước”, thậm chí “lật sử” khi cho rằng đây là “nội chiến”, kích động hận thù, chia rẽ Bắc - Nam… những luận điệu đó không chỉ sai sự thật mà còn đi ngược lại lợi ích dân tộc và khát vọng hòa bình của Nhân dân Việt Nam.
Trước hết cần khẳng định rằng thắng lợi ngày 30/4/1975 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính nghĩa, lâu dài và đầy hy sinh của Nhân dân Việt Nam. Trong suốt một thế kỷ chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, hơn hai thập kỷ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, dân tộc Việt Nam đã phải đối mặt với những cuộc chiến khốc liệt với quy mô lớn chưa từng có. Hàng triệu triệu tấn bom đạn đã trút xuống đất nước, nhiều vùng quê bị tàn phá nặng nề, hàng chục triệu người dân đã hy sinh vì độc lập và tự do.
Trong bối cảnh đó, mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam không gì khác ngoài việc giành lại độc lập, thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định một chân lý bất di bất dịch của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Câu nói ấy không chỉ là lời hiệu triệu đối với nhân dân Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh mà còn phản ánh khát vọng chung của cả dân tộc. Thắng lợi ngày 30/4 vì thế không phải là “chiến thắng của một bên đối với một bên”, càng không phải là “sự áp đặt của ý thức hệ”, mà là thắng lợi của khát vọng độc lập và thống nhất đất nước.
Lịch sử cũng đã chứng minh rằng sức mạnh làm nên chiến thắng của Việt Nam chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ hậu phương miền Bắc đến các chiến trường miền Nam, từ lực lượng vũ trang đến nhân dân lao động, tất cả đều chung một ý chí, chung một mục tiêu giải phóng đất nước. Chính sức mạnh của toàn dân tộc đã giúp Việt Nam vượt qua một đối thủ có tiềm lực quân sự và kinh tế vượt trội, tạo nên một trong những chiến thắng mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc của thế kỷ XX.
Không chỉ trong nước, cuộc đấu tranh của Việt Nam còn nhận được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Nhiều nhà lãnh đạo quốc tế đã bày tỏ sự khâm phục đối với tinh thần chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro từng khẳng định: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Để đoàn kết và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết được lập ra ở hầu hết các nước trên thế giới với nhiều hoạt động tích cực. Hàng triệu người thuộc nhiều nước ghi tên tình nguyện sang giúp Nhân dân Việt Nam đánh Mỹ. 16 nước có phong trào hiến máu; trên 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam. Ở Pháp có các phong trào quyên góp "100 triệu Frăng ủng hộ Việt Nam"; ở Nhật Bản có chiến dịch quyên góp "100 triệu yên cho Việt Nam"; ở Thụy Điển có phong trào "Một triệu cuaron ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam"…
Những sự ủng hộ ấy cho thấy chiến thắng 30/4 không chỉ mang ý nghĩa dân tộc mà còn trở thành biểu tượng của phong trào đấu tranh vì độc lập và tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Đảng ta, dân tộc ta không hề mong muốn chiến tranh xảy ra. Ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết ngày 21/7/1954, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Nhân dân Việt Nam luôn tôn trọng, nghiêm chỉnh thực thi những điều khoản đã được ký kết, hy vọng vào một cuộc tổng tuyển cử thống nhất. Ngược lại, đế quốc Mỹ với sự câu kết của thực dân Pháp đã ngang nhiên phá hoại Hiệp định Geneva, thực hiện âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, “tiền đồn chống cộng” ở Đông Nam châu Á. Dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm trắng trợn vi phạm Hiệp định, tổ chức tuyển cử riêng rẽ vào đầu năm 1956.
Quyết tâm “Tổ quốc không thể chia đôi”, Nhân dân hai miền mít tinh, biểu tình phản đối, ban đầu là đấu tranh chính trị, sau đó mới tiến đến đấu tranh vũ trang. Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đã chấm dứt chiến tranh, mở ra thời kỳ hòa bình và thống nhất - điều mà hầu hết người dân Việt Nam ở cả hai miền đều mong muốn.
Vậy mà một số kẻ thất bại vẫn tiếp tục rêu rao: Ngày 30/4 là “ngày quốc hận”; “ngày mất nước”… trong lúc ngay cả nhiều nhân vật từng đứng trong chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 cũng đã có cái nhìn khác sau khi chiến tranh kết thúc. Khi trở lại thăm Việt Nam sau nhiều năm sống lưu vong, cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Cao Kỳ đã lên tiếng: “…Đất nước đã được thống nhất rồi! vậy mà có kẻ vẫn ngoái cổ lại nói phục quốc? Đất nước Việt Nam có mất cho tây cho tàu đâu mà phục quốc?” đồng thời thẳng thắn bày tỏ: “Chiến tranh đã qua rồi. Đã đến lúc tất cả người Việt Nam phải nhìn về phía trước để cùng xây dựng đất nước...”.
Những phát biểu này có ý nghĩa đặc biệt, bởi chúng xuất phát từ một nhân vật từng đứng ở phía bên kia của cuộc chiến. Điều đó cho thấy lịch sử cuối cùng vẫn được nhìn nhận bằng sự thật, tinh thần hòa giải và trách nhiệm đối với tương lai dân tộc.
Thực tế hơn 50 năm sau ngày thống nhất đất nước, đặc biệt là 40 năm đổi mới, càng khẳng định giá trị của chiến thắng 30/4. Từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, Việt Nam đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có mức thu nhập trung bình. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Những thành tựu đó không thể tách rời tiền đề căn bản là hòa bình và thống nhất đất nước - điều mà chiến thắng năm 1975 đã mang lại. Nếu không có sự kiện lịch sử ấy, Việt Nam khó có thể có được môi trường ổn định để tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển như ngày nay.
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, các luận điệu xuyên tạc lịch sử có thể lan truyền nhanh chóng trên không gian mạng. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức lịch sử và bản lĩnh chính trị của mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, có ý nghĩa hết sức quan trọng. Hiểu đúng lịch sử không chỉ giúp bảo vệ sự thật mà còn củng cố niềm tin vào con đường phát triển của đất nước.
Sự thật lịch sử là khách quan và không thể bị xóa nhòa bởi bất kỳ luận điệu xuyên tạc nào. Bảo vệ giá trị của ngày 30/4 chính là bảo vệ niềm tự hào dân tộc, tri ân những hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước, đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Nguyễn Mạnh Hà
Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang
Trước hết cần khẳng định rằng thắng lợi ngày 30/4/1975 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính nghĩa, lâu dài và đầy hy sinh của Nhân dân Việt Nam. Trong suốt một thế kỷ chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, hơn hai thập kỷ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, dân tộc Việt Nam đã phải đối mặt với những cuộc chiến khốc liệt với quy mô lớn chưa từng có. Hàng triệu triệu tấn bom đạn đã trút xuống đất nước, nhiều vùng quê bị tàn phá nặng nề, hàng chục triệu người dân đã hy sinh vì độc lập và tự do.
Trong bối cảnh đó, mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam không gì khác ngoài việc giành lại độc lập, thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định một chân lý bất di bất dịch của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Câu nói ấy không chỉ là lời hiệu triệu đối với nhân dân Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh mà còn phản ánh khát vọng chung của cả dân tộc. Thắng lợi ngày 30/4 vì thế không phải là “chiến thắng của một bên đối với một bên”, càng không phải là “sự áp đặt của ý thức hệ”, mà là thắng lợi của khát vọng độc lập và thống nhất đất nước.
Lịch sử cũng đã chứng minh rằng sức mạnh làm nên chiến thắng của Việt Nam chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ hậu phương miền Bắc đến các chiến trường miền Nam, từ lực lượng vũ trang đến nhân dân lao động, tất cả đều chung một ý chí, chung một mục tiêu giải phóng đất nước. Chính sức mạnh của toàn dân tộc đã giúp Việt Nam vượt qua một đối thủ có tiềm lực quân sự và kinh tế vượt trội, tạo nên một trong những chiến thắng mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc của thế kỷ XX.
Không chỉ trong nước, cuộc đấu tranh của Việt Nam còn nhận được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Nhiều nhà lãnh đạo quốc tế đã bày tỏ sự khâm phục đối với tinh thần chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro từng khẳng định: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Để đoàn kết và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết được lập ra ở hầu hết các nước trên thế giới với nhiều hoạt động tích cực. Hàng triệu người thuộc nhiều nước ghi tên tình nguyện sang giúp Nhân dân Việt Nam đánh Mỹ. 16 nước có phong trào hiến máu; trên 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam. Ở Pháp có các phong trào quyên góp "100 triệu Frăng ủng hộ Việt Nam"; ở Nhật Bản có chiến dịch quyên góp "100 triệu yên cho Việt Nam"; ở Thụy Điển có phong trào "Một triệu cuaron ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam"…
Những sự ủng hộ ấy cho thấy chiến thắng 30/4 không chỉ mang ý nghĩa dân tộc mà còn trở thành biểu tượng của phong trào đấu tranh vì độc lập và tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Đảng ta, dân tộc ta không hề mong muốn chiến tranh xảy ra. Ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết ngày 21/7/1954, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Nhân dân Việt Nam luôn tôn trọng, nghiêm chỉnh thực thi những điều khoản đã được ký kết, hy vọng vào một cuộc tổng tuyển cử thống nhất. Ngược lại, đế quốc Mỹ với sự câu kết của thực dân Pháp đã ngang nhiên phá hoại Hiệp định Geneva, thực hiện âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, “tiền đồn chống cộng” ở Đông Nam châu Á. Dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm trắng trợn vi phạm Hiệp định, tổ chức tuyển cử riêng rẽ vào đầu năm 1956.
Quyết tâm “Tổ quốc không thể chia đôi”, Nhân dân hai miền mít tinh, biểu tình phản đối, ban đầu là đấu tranh chính trị, sau đó mới tiến đến đấu tranh vũ trang. Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đã chấm dứt chiến tranh, mở ra thời kỳ hòa bình và thống nhất - điều mà hầu hết người dân Việt Nam ở cả hai miền đều mong muốn.
Vậy mà một số kẻ thất bại vẫn tiếp tục rêu rao: Ngày 30/4 là “ngày quốc hận”; “ngày mất nước”… trong lúc ngay cả nhiều nhân vật từng đứng trong chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 cũng đã có cái nhìn khác sau khi chiến tranh kết thúc. Khi trở lại thăm Việt Nam sau nhiều năm sống lưu vong, cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Cao Kỳ đã lên tiếng: “…Đất nước đã được thống nhất rồi! vậy mà có kẻ vẫn ngoái cổ lại nói phục quốc? Đất nước Việt Nam có mất cho tây cho tàu đâu mà phục quốc?” đồng thời thẳng thắn bày tỏ: “Chiến tranh đã qua rồi. Đã đến lúc tất cả người Việt Nam phải nhìn về phía trước để cùng xây dựng đất nước...”.
Những phát biểu này có ý nghĩa đặc biệt, bởi chúng xuất phát từ một nhân vật từng đứng ở phía bên kia của cuộc chiến. Điều đó cho thấy lịch sử cuối cùng vẫn được nhìn nhận bằng sự thật, tinh thần hòa giải và trách nhiệm đối với tương lai dân tộc.
Thực tế hơn 50 năm sau ngày thống nhất đất nước, đặc biệt là 40 năm đổi mới, càng khẳng định giá trị của chiến thắng 30/4. Từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, Việt Nam đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có mức thu nhập trung bình. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Những thành tựu đó không thể tách rời tiền đề căn bản là hòa bình và thống nhất đất nước - điều mà chiến thắng năm 1975 đã mang lại. Nếu không có sự kiện lịch sử ấy, Việt Nam khó có thể có được môi trường ổn định để tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển như ngày nay.
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, các luận điệu xuyên tạc lịch sử có thể lan truyền nhanh chóng trên không gian mạng. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức lịch sử và bản lĩnh chính trị của mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, có ý nghĩa hết sức quan trọng. Hiểu đúng lịch sử không chỉ giúp bảo vệ sự thật mà còn củng cố niềm tin vào con đường phát triển của đất nước.
Sự thật lịch sử là khách quan và không thể bị xóa nhòa bởi bất kỳ luận điệu xuyên tạc nào. Bảo vệ giá trị của ngày 30/4 chính là bảo vệ niềm tự hào dân tộc, tri ân những hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước, đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Nguyễn Mạnh Hà
Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang